đặt vấn đề nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh. Tác giả phân tích thực trạng trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để chỉ ra những đặc trưng của hoạt động thương mại, du lịch tỉnh Sơn La. Từ đó, đánh giá và đề xuất các giải pháp phù hợp cho tỉnh trong phát triển hoạt động du lịch. Trần Xuân Ảnh (2007), "Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị trường du lịch" lại tiếp cận du lịch bằng khía cạnh thị trường.
Công tác quản lý nhà nước về du lịch là một trong những công tác quản lý thị trường một ngành dịch vụ nhất định. Từ đó, hoạt động quản lý Nhà nước được phân tích xoay quanh đối tượng nghiên cứu với những giải pháp khá chung, không thể hiện đặc thù địa phương. 5 Như vậy, các tài liệu thường xoay quanh công tác quản lý Nhà nước về du lịch hay công tác quản lý của công ty khai thác du lịch. Mặc dù, tiếp cận vấn đề ở khía cạnh riêng nhưng các tài liệu cũng đã đặt ra cơ sở nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động du lịch làm nền tảng cho việc xây dựng những khung khổ lý luận cơ bản.
Mặc dù số lượng các điểm DTLSVH ở Việt Nam rất lớn nhưng các công trình nghiên cứu riêng về quản lý hoạt động du lịch tại các DTLSVH lại không nhiều. Hạ Thị Ngọc Hà (2017) đã nghiên cứu về “Quản lý hoạt động du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn - Hà Nội, luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN đã xây dựng một khung khổ lý luận khá đầy đủ về quản lý hoạt động du lịch. Không chỉ vậy, luận văn còn có giá trị thực tiễn khi phân tích, đánh giá công tác quản lý hoạt động du lịch ở Hương Sơn. Ở đây, tác giả cũng chỉ ra các cấp quản lý đối với hoạt động du lịch tại các di tích văn hoá và vai trò quan trọng của Ban quản lý di tích cũng như các cơ quan chức năng địa phương trong quản lý hoạt động du lịch ở một điểm DTLSVH.
Đỗ Hồng Thủy (2014) lại nghiên cứu về “Quản lý nhà nước về bảo tồn khu di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” với tiếp cận về quản lý Nhà nước. Tác giả đã chỉ ra những đặc trưng của các khu bảo tồn di tích lịch sử và sự cần thiết phải quản lý các di tích trong khu bảo tồn để khai thác các giá trị văn hoá cũng như cung cấp dịch vụ tâm linh cho khách du lịch ở địa phương. Ngoài ra, luận văn còn phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp hữu hiệu trong quản lý Nhà nước đối với các khu bảo tồn di tích lịch sử. Chủ thể quản lý được luận văn đề cập là các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh với những hoạt động quản lý Nhà nước đặc thù.
Trần Đức Nguyên (2015) chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trong cuốn “Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa”. Luận án không nghiên cứu theo tiếp cận kinh tế mà theo tiếp cận văn hoá. Vì vậy, toàn bộ nội dung của luận án tập trung vào công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hoá lâu đời, những kỹ thuật bảo tồn và gìn giữ các giá trị văn hoá của khu di tích và công tác quản lý không được nhìn nhận theo hướng quản lý hoạt động du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương. 6 Nguyễn Văn Đức (2013) lại chỉ nghiên cứu khía cạnh “tổ chức hoạt động du lịch tại một số di tích lịch sử văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững”.
Trong đó, luận án phân tích công tác tổ chức hoạt động du lịch là một trong những chức năng quản lý du lịch ở điểm DTLSVH. Mặc dù luận án đã xây dựng một khung lý luận đầy đủ và chặt chẽ, nêu được khái niệm, nội dung của công tác tổ chức hoạt động du lịch cũng như đặc thù tổ chức hoạt động du lịch tại điểm DTLSVH, phân tích thực tiễn ở 3 điểm di tích tại Hà Nội nhưng giới hạn nghiên cứu còn khá hẹp. Có thể thấy, các đề tài đã khai thác những khía cạnh khác nhau nhưng chưa nghiên cứu tổng quát hơn vấn đề quản lý hoạt động du lịch tại DTLSVH. Bên cạnh đó, những nghiên cứu về quản lý hoạt động du lịch tại di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám - Hà Nội cũng chưa được đề cập.
Đây chính là “khoảng trống” để luận văn xác định được vấn đề nghiên cứu. Hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hoá 1. Di tích lịch sử văn hoá 1. Khái niệm về di tích lịch sử văn hoá Di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) chứa đựng những truyền thống tốt đẹp, những tinh hóa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.
DTLSVH là tài nguyên nhân văn quý giá được hình thành, bảo tồn, tôn tạo của nhiều thế hệ ở các địa phương và các quốc gia. DTLSVH là khách thể của hoạt động du lịch. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định về DTLSVH. Xem xét DTLSVH với tư cách là tài nguyên du lịch nhân văn với các giá trị nhân văn vật thể và phi vật thể có một số khái niệm tiêu biểu như sau: Theo Hiến chương Venice- Italia (1964), “Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử.
Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiên tốn hơn vốn đã, cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa”. 7 Theo Đạo luật 16 về di sản lịch sử của Tây Ban Nha (1985), di sản lịch sử văn hóa được gọi là di tích lịch sử: “Di tích lịch sử bao gồm các bất động sản và các động sản có lợi ích nghệ thuật, có lợi ích sinh vật học, khảo cổ học, dân tộc học, khoa học hoặc kỹ thuật, cũng kể cả di sản tự nhiên và thư mục, các lớp mỏ, các khu vực khảo cổ, các thắng cảnh thiên nhiên, các công viên, các vườn có giá trị nghệ thuật lịch sử hay nhân chủng học. Theo công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO (1971), Di sản văn hóa là (1) Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ học, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học; (2) Các quần thể: Các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan và (3) Các thắng cảnh: Các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có một giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học. Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001) và Luật Di sản văn hóa bổ sung và sửa đổi của Việt Nam (2009) thì DTLSVH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
DTLSVH phải có một trong các tiêu chí sau: (1) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. (2) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử. (3) Địa chỉ khảo cổ học có giá trị tiêu biểu. (4) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật.
8 Có thể định nghĩa chung nhất về di tích lịch sử văn hoá là “công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học tiêu biểu trong quá trình dựng xây đất nước hoặc có ảnh hưởng trong một giai đoạn lịch sử. Qua những khái niệm trên về di tích lịch sử văn hóa, có thể rút ra đặc điểm chung của DTLSVH như sau: Thứ nhất, di tích là một không gian vật chất cụ thể, khách quan như công trình, địa điểm, các di vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó và cảnh quan thiên nhân có sự kết hợp với các công trình kiến trúc hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người nằm trong khu vực cảnh quan thiên nhiên đó. Di tích tồn tại cụ thể trong một không gian và thời gian, các di tích có quy mô, kiến trúc khác nhau. Thứ hai, di tích không chỉ kết tinh những giá trị lao động xã hội của con người trong lịch sử sáng tạo mà còn kết tinh những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa học.
ĐIều này hết sức quan trọng, khẳng định trước hết nó thuộc sở hữu của người lao động sáng tạo ra nó, nhưng nó là tài sản quốc gia vì bản thân chứa đựng những giá trị điển hình xã hội. Thứ ba, di tích bao gồm những bộ phận cấu thành: môi trường, cảnh quan thiên nhiên xen kẽ, hoặc bao quanh di tích, những công trình, địa điểm liên quan tới sự kiện lịch sử; hoặc nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa và những giá trị văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật thể gắn với công trình, địa điểm đó. Phân loại di tích lịch sử văn hoá Phân loại DTLSVH nhằm thống kê, đánh giá đúng hiện trạng, giá trị kho tàng di sản văn hoá cả vật thể và phi vật thể góp phần nghiên cứu khoa học, bảo tồn, tôn tạo, khai thác và phát huy các giá trị của di tích lịch sử văn hoá phục vụ du lịch.