Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN DI TÍCH MIẾU, CHÙA BẢO HÀ, XÃ ĐỒNG MINH, HUYỆN VĨNH BẢO 1. Những vấn đề lý luận chung về quản lý di tích lịch sử - văn hóa 1. Một số khái niệm 1. Di sản văn hóa * Khái niệm Di sản văn hóa: Trong Công ước Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO ban hành năm 1972, tại điều 1 có quy định những loại hình sẽ được coi như là “di sản văn hoá” bao gồm: Di tích kiến trúc (monuments), nhóm công trình xây dựng (groups of buildings) và các di chỉ (sites) [51, tr.
Khái niệm di sản trong một số từ điển được hiểu theo một nghĩa đơn giản đó là tính năng thuộc về nền văn hóa của một xã hội cụ thể, chẳng hạn như truyền thống, ngôn ngữ, hoặc các tòa nhà, đã được tạo ra trong quá khứ và vẫn còn có tầm quan trọng lịch sử. Ở nước ta, trong Luật Di sản văn hóa đã khẳng định: Di sản văn hóa bảo gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác…[38, tr. Riêng di sản văn hóa vật thể trong Luật Di sản văn hóa này còn được diễn giải là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [38, tr. Di tích lịch sử - văn hóa * Khái niệm Di tích lịch sử văn hóa: Trong hiến chương Venice - hiến chương quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu di tích và di chỉ (năm 1964), tại Điều 1 có định nghĩa: Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn cả các khu đô thị hoặc nông thôn trong đó được tìm thấy bằng 9 chứng của một nền văn minh cụ thể, phát triển quan trọng hay một sự kiện lịch sử.
Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật lớn mà cả với những công trình khiêm tốn đã hội tụ được các ý nghĩa văn hóa của quá khứ [5, tr. Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận của di sản văn hóa vật thể đã được trình bày trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009. Vì vậy trong Luật Di sản văn hóa đã ghi nhận: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [32, tr. Ở đây, có thể hiểu rộng ra các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng… Theo luật Di sản văn hóa, di tích được phân loại như sau; - Loại hình di tích lịch sử.
- Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật. - Loại hình di tích khảo cổ. - Loại hình di tích danh lam thắng cảnh [32, tr. + Loại hình di tích lịch sử bao gồm: những công trình địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; gắn với lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến như khu di tích Đền Hùng (Phú Thọ) Bạch Đằng Giang (Hải Phòng) ATK Định Hóa (Thái Nguyên)… + Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
10 + Loại hình di tích khảo cổ học là: cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học. Theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích được chia thành 3 loại: - Di tích quốc gia đặc biệt - Di tích quốc gia - Di tích cấp tỉnh [32, tr. + Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia [32, tr. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Thủ tướng chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.
+ Di tích quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia [32, tr. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia. + Di tích cấp tỉnh: là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương [32, tr. Địa phương lập hồ sơ trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở VHTT&DL, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh [32, tr.
Quản lý di sản văn hóa * Quản lý: Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải tuân thủ và chịu một sự quản lý nào đó. Hoạt động quản lý diễn ra từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Tùy từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể khác nhau đòi hỏi yêu cầu quản lý khác nhau. 11 Theo nghĩa thông thường có thể hiểu: Quản lý là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đã định ra [24, tr.
Khi nghiên cứu về khái niệm quản lý, F. Ăngghen đã nhấn mạnh đến nội dung của quản lý: Quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người [15, tr. Ngoài ra theo tác giả Mai Hữu Luân đã trình bày trong cuốn Lý luận quản lý Hành chính nhà nước (2003) như sau: Quản lý là hoạt động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định [31, tr. * Quản lý nhà nước: Đối với nhà nước, thì: Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của Nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách, nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc [11, tr.
Theo giáo trình quản lý nhà nước về xã hội học Học viện hành chính Quốc gia (2009) cho rằng: Quản lý nhà nước về văn hóa là sử dụng quyền của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người khi tham gia vào các lĩnh vực hoạt động văn hóa [25, tr. * Quản lý di sản văn hóa: Trong nền văn hóa Việt Nam, kho tàng di sản văn hóa có một vị thế đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với tiến trình phát triển của đất nước. Cũng như mọi vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội thì kho tàng di sản văn hóa cũng biến đổi không ngừng như chính cuộc sống xã hội. Điều đó đặt ra 12 cho công tác quản lý di sản văn hóa những nhiệm vụ cấp bách.
Công tác quản lý di sản văn hóa là quá trình xuyên suốt trong đời sống xã hội ở tất cả các cấp độ, tất cả các địa phương. Công tác này giúp cho đời sống văn hóa của xã hội có được nền tảng ổn định, bền vững để tồn tại và phát triển. Vì vậy, khi nghiên cứu về khái niệm quản lý di sản văn hóa nhóm tác giả trong giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch, Trường ĐH Văn hóa Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội đã viết: Quản lý di sản văn hóa là quá trình theo dõi, định hướng, điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hóa trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng, đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng động dân cư chủ nhân của các di sản văn hóa đó [43, tr. Về bản chất của công tác quản lý di sản văn hóa các tác giả trong giáo trình trên còn nêu ra hai mục đích cơ bản sau đây: - Bảo tồn sự phát triển bền vững của kho tàng di sản văn hóa dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Khai thác ngày càng hiệu quả những giá trị của di sản văn hóa, nâng di sản văn hóa dân tộc lên những tầm cao mới [43, tr. Quản lý di tích lịch sử văn hóa Trên thực tế hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa có vai trò rất quan trọng trong đó bảo tồn và phát huy di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động không thể thiếu. Vì vậy, quản lý di sản văn hóa nói chung và quản lý di tích lịch sử - văn hóa nói riêng cũng được các nhà nghiên cứu đề cập trong các công trình nghiên cứu của mình. Cụ thể như sau: Quản lý di tích lịch sử - văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện của tổ chức điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS - VH, làm cho giá trị của di tích phát huy theo chiều hướng tích cực [20, tr.
Các di tích lịch sử - văn hóa cần phải được tôn trọng và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch. Việc bảo vệ, khai thác, sử 13 dụng có hiệu quả những di tích lịch sử - văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống lịch sử, nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu văn hóa, thẩm mỹ của nhân dân.