Tổng quan nghiên cứu

Huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với 89 di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng, bao gồm 01 di tích quốc gia đặc biệt, 21 di tích cấp quốc gia và 67 di tích cấp thành phố. Nằm cách trung tâm huyện khoảng 6 km về phía Tây Nam, xã Đồng Minh sở hữu diện tích tự nhiên 614,13 ha với 14 thôn và trên 8.000 nhân khẩu. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với làng nghề điêu khắc gỗ, tạc tượng và sơn mài có lịch sử gần 600 năm mà còn lưu giữ cụm di tích lịch sử - văn hóa đặc sắc gồm Miếu Bảo Hà và Chùa Bảo Hà, được Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức xếp hạng cấp Quốc gia vào năm 1991.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với cụm di tích có tính chất kép: vừa là không gian sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng, vừa là bảo tàng sống lưu giữ tinh hoa của làng nghề điêu khắc cổ truyền. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa Miếu, Chùa Bảo Hà, nhận diện các điểm nghẽn trong tổ chức bộ máy, bảo quản hiện vật, tổ chức lễ hội và phát huy giá trị di sản. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại xã Đồng Minh trong giai đoạn từ năm 2001 (thời điểm Luật Di sản văn hóa bắt đầu có hiệu lực) đến năm 2018. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để chuẩn hóa quy trình quản lý cho 100% các điểm di tích làng nghề tại địa phương và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước về văn hóa kết hợp với quan điểm bảo tồn thích ứng di sản văn hóa. Các cơ sở lý luận này được kế thừa từ các văn kiện quốc tế chuẩn mực như Hiến chương Venice năm 1964 về bảo tồn và trùng tu di tích, Công ước Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 và Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO. Đồng thời, nghiên cứu quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Bốn khái niệm then chốt được làm sáng tỏ gồm: Di sản văn hóa, Di tích lịch sử - văn hóa, Quản lý di sản văn hóa và Xã hội hóa hoạt động bảo tồn. Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), di tích lịch sử - văn hóa được phân định thành 3 cấp quản lý hành chính gồm: di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh. Khung phân tích của luận văn bám sát 8 nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa, tập trung vào các khâu: quy hoạch khoanh vùng bảo vệ, tu bổ tôn tạo, kiểm kê cổ vật, quản lý lễ hội và thanh tra giám sát hoạt động tôn giáo tín ngưỡng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ khoa học di tích của Bảo tàng Hải Phòng, báo cáo định kỳ của Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng, UBND huyện Vĩnh Bảo và dữ liệu sơ cấp thu thập từ thực địa. Quá trình thu thập thông tin được triển khai trên cỡ mẫu khảo sát gồm 120 phiếu điều tra xã hội học đối với cộng đồng cư dân tại 14 thôn của xã Đồng Minh kết hợp 25 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý văn hóa các cấp, nghệ nhân ưu tú và thành viên Ban quản lý di tích.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được kết hợp với chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm chủ thể tham gia vào hoạt động di tích. Để xử lý nguồn dữ liệu trong suốt timeline nghiên cứu 17 năm (2001 - 2018), tác giả lựa chọn phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu, phương pháp khảo sát điền dã dân tộc học và phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Quản lý văn hóa, Văn hóa học và Bảo tồn - Bảo tàng. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan, phản ánh chính xác sự vận động của di tích dưới tác động của đời sống kinh tế thị trường đương đại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức và nhân lực quản lý: Hệ thống quản lý được vận hành qua 4 cấp từ Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Vĩnh Bảo đến UBND xã Đồng Minh và Ban bảo vệ di tích cơ sở. Đội ngũ cán bộ Phòng Văn hóa và Thông tin huyện gồm 06 biên chế với 100% có trình độ đại học trở lên (trong đó có 01 Thạc sĩ). Tuy nhiên, chỉ có đúng 01 cán bộ (chiếm tỷ lệ 16,6%) được đào tạo đúng chuyên ngành bảo tồn, bảo tàng phụ trách mảng di sản. Tại xã Đồng Minh, Ban quản lý di tích xã được kiện toàn gồm 12 thành viên và Ban bảo vệ cụm di tích gồm 13 thành viên là các trưởng thôn, người cao tuổi uy tín trực tiếp trông coi cụm di tích có diện tích 4 sào Bắc Bộ (Miếu) và 3 mẫu Bắc Bộ (Chùa).

Thứ hai, về công tác bảo tồn hiện vật và huy động nguồn lực: Di tích Miếu Bảo Hà đang lưu giữ 50 hiện vật đồ mộc tiêu biểu cùng 14 pho tượng cổ có giá trị nghệ thuật đỉnh cao, nổi bật là bức tượng Linh Lang Đại Vương có khớp chuyển động đứng lên ngồi xuống độc nhất vô nhị và tượng Tổ nghề Nguyễn Công Huệ cao 61 cm. Chùa Bảo Hà lưu giữ trên 100 pho tượng (trong đó có 53 pho tượng đặc sắc), 11 ngôi tháp cổ (gồm 7 tháp cổ thời Lê và 4 tháp xây dựng sau này), bia đá Thịnh Đức niên đại năm 1651 và chuông đồng thế kỷ XIX. Toàn bộ 100% kinh phí phục dựng tòa tiền đường năm 2004 và các đợt tu sửa cảnh quan đều được huy động thành công thông qua công tác xã hội hóa từ đóng góp của nhân dân và khách thập phương.

Thứ ba, về hoạt động lễ hội và khai thác du lịch: Lễ hội truyền thống diễn ra từ ngày 10 đến 15 tháng 2 âm lịch và ngày giỗ Tổ nghề 18 tháng 6 âm lịch thu hút hơn 8.000 lượt người tham dự mỗi kỳ. Mặc dù cụm di tích đã được đưa vào tuyến "Du khảo đồng quê" từ năm 2002, nhưng mức độ liên kết dịch vụ du lịch mới chỉ khai thác được khoảng 25% đến 30% tiềm năng thực tế của làng nghề múa rối và tạc tượng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh sự thiếu hụt cán bộ chuyên trách di sản ở cấp cơ sở, khiến công tác bảo quản định kỳ các pho tượng gỗ cổ dễ bị tác động bởi khí hậu ẩm ướt. Chế độ phụ cấp cho 13 thành viên trong Ban bảo vệ di tích còn mang tính tượng trưng, chưa tạo được động lực ràng buộc trách nhiệm cao.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu quản lý di tích tại Đền thờ Hai Bà Trưng (Mê Linh, Hà Nội) hay hệ thống di tích tỉnh Ninh Bình trong cùng giai đoạn, cụm di tích Miếu, Chùa Bảo Hà có tính chất đặc thù rõ nét hơn khi gắn liền với làng nghề thủ công truyền thống. Dữ liệu khảo sát có thể được tổng hợp trực quan qua Bảng cơ cấu trình độ nhân lực quản lý văn hóa các cấp và Biểu đồ tỷ lệ đóng góp nguồn vốn xã hội hóa trong công tác tu bổ, qua đó minh chứng rằng nguồn lực cộng đồng đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại của di sản trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao năng lực chuyên môn cho bộ máy quản lý: Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên sâu cho 100% công chức văn hóa xã và 25 thành viên thuộc Ban quản lý, Ban bảo vệ di tích thông qua 2 khóa tập huấn nghiệp vụ bảo tồn/năm trong giai đoạn 2019 - 2022. Chủ thể thực hiện là Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng phối hợp với Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Vĩnh Bảo.

Thứ hai, hoàn thiện quy hoạch khoanh vùng và tu bổ di tích: Tiến hành cắm mốc ranh giới bảo vệ, mở rộng vùng đệm bảo vệ cảnh quan thêm khoảng 20% đến 30% diện tích hiện có, bảo đảm giữ nguyên trạng kiến trúc 4 sào Bắc Bộ của Miếu và 3 mẫu Bắc Bộ của Chùa trước năm 2025. Chủ thể thực hiện là UBND huyện Vĩnh Bảo chủ trì phối hợp với Sở Xây dựng và UBND xã Đồng Minh.

Thứ ba, chuẩn hóa cơ chế tài chính và phụ cấp trách nhiệm: Ban hành quy chế quản lý hòm công đức minh bạch với tổ kiểm kê tối thiểu 3 người, trích lại từ 15% đến 20% tổng nguồn thu công đức để chi trả phụ cấp cố định tối thiểu 500.000 đồng/người/tháng cho 13 thành viên Ban bảo vệ di tích từ năm 2019. Chủ thể thực hiện là UBND xã Đồng Minh và Ban quản lý di tích xã.

Thứ tư, đẩy mạnh khai thác giá trị di tích gắn với phát triển du lịch làng nghề: Tích hợp không gian biểu diễn của 3 phường múa rối cạn với tour trải nghiệm điêu khắc gỗ truyền thống, đặt mục tiêu tăng trưởng 25% lượng khách du lịch lưu trú mỗi năm đến năm 2025. Chủ thể thực hiện là UBND xã Đồng Minh liên kết với Sở Du lịch Hải Phòng và các doanh nghiệp lữ hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1 - Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa: Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng và Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện có thể sử dụng dữ liệu từ 89 di tích của huyện Vĩnh Bảo để tham chiếu xây dựng quy chế phân cấp quản lý và đề án bảo tồn di sản cấp cơ sở.

Nhóm 2 - Chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích cấp xã: UBND các xã, phường có di tích xếp hạng áp dụng mô hình tổ chức ban quản lý 12 thành viên, quy trình kiểm kê 50 hiện vật đồ mộc và phương thức vận hành hòm công đức minh bạch vào thực tế.

Nhóm 3 - Giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên ngành Quản lý văn hóa: Sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về phương pháp luận điền dã, đánh giá tác động của kinh tế thị trường đối với việc bảo tồn di tích làng nghề trong chu kỳ nghiên cứu 17 năm.

Nhóm 4 - Doanh nghiệp lữ hành và phát triển du lịch: Khai thác nội dung về di sản văn hóa phi vật thể, tục rước lợn Hỗng và nghệ thuật múa rối cạn để xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm đồng quê độc đáo tại Hải Phòng.

Câu hỏi thường gặp

Giá trị độc bản nổi bật nhất của di tích Miếu Bảo Hà là gì?
Di tích sở hữu pho tượng Thành hoàng Linh Lang Đại Vương bằng gỗ cao bằng người thật, được chế tác cách đây hơn 300 năm với hệ thống khớp chốt đanh gỗ mô phỏng kỹ thuật con rối, giúp tượng có thể đứng lên và ngồi xuống một cách linh hoạt.

Đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa huyện Vĩnh Bảo có đáp ứng yêu cầu chuyên môn không?
Phòng Văn hóa và Thông tin huyện có 6 cán bộ đạt 100% trình độ đại học, nhưng chỉ có 1 cán bộ (tỷ lệ 16,6%) được đào tạo đúng chuyên ngành bảo tồn, bảo tàng, dẫn đến sự thiếu hụt chuyên gia sâu khi xử lý các vấn đề tu bổ di tích cổ.

Kinh phí tu bổ, tôn tạo cụm di tích được huy động từ nguồn nào?
Gần như 100% kinh phí phục dựng tòa tiền đường năm 2004 và tôn tạo khuôn viên đều được huy động thông qua hình thức xã hội hóa từ các tổ chức, doanh nghiệp, dòng họ và nhân dân địa phương đóng góp.

Mô hình quản lý cơ sở tại di tích Miếu, Chùa Bảo Hà được tổ chức ra sao?
Mô hình gồm Ban quản lý di tích xã (12 thành viên do Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách) chịu trách nhiệm pháp lý và Ban bảo vệ cụm di tích (13 thành viên là trưởng làng, người cao tuổi) trực tiếp trông nom, hương khói hàng ngày.

Chương trình Du khảo đồng quê tác động như thế nào đến di tích?
Từ khi đi vào hoạt động năm 2002, chương trình đã đưa hàng nghìn lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, thúc đẩy làng nghề điêu khắc phát triển nhưng cũng đặt ra thách thức lớn về an ninh hiện vật và bảo vệ môi trường cảnh quan.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia gắn với không gian làng nghề thủ công truyền thống.
  • Đánh giá thực trạng quản lý cụm di tích Miếu, Chùa Bảo Hà trong suốt 17 năm (2001 - 2018), làm rõ vai trò của bộ máy quản lý 4 cấp và nguồn lực xã hội hóa từ cộng đồng.
  • Nhận diện các hạn chế cốt lõi như nhân lực chuyên ngành bảo tồn chỉ đạt 16,6%, chế độ cho 13 thành viên ban bảo vệ còn thấp và việc khai thác du lịch mới đạt 30% tiềm năng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao về đào tạo nhân lực, quy hoạch vùng đệm, hoàn thiện cơ chế tài chính và liên kết du lịch bền vững đến năm 2025.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền và cộng đồng khẩn trương triển khai số hóa hồ sơ kiểm kê 50 hiện vật gỗ quý nhằm bảo tồn nguyên vẹn giá trị di sản cho các thế hệ tương lai.