Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Quảng Nam sở hữu diện tích tự nhiên 10.438 km² cùng 125 km bờ biển, là địa phương duy nhất tại Việt Nam sở hữu 2 di sản văn hóa thế giới được UNESCO vinh danh vào năm 1999 tại kỳ họp lần thứ 23 của Ủy ban Di sản Thế giới, bao gồm Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn. Trải qua hơn 20 năm quản lý và khai thác, công tác bảo tồn di sản tại đây đối mặt với áp lực gay gắt giữa bảo tồn tính nguyên vẹn và tốc độ phát triển du lịch, biến đổi khí hậu cũng như những bất cập từ hệ thống thể chế hành chính.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận, cơ chế pháp lý và đánh giá thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với 2 di sản thế giới tại Quảng Nam. Mục tiêu cụ thể là nhận diện các mâu thuẫn trong phân cấp quản lý, chỉ ra các khoảng trống pháp lý, từ đó kiến nghị các nhóm giải pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước theo hướng bền vững.

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian Đô thị cổ Hội An (diện tích khu vực bảo vệ là 30 ha) và Khu đền tháp Mỹ Sơn (142 ha vùng lõi, 920 ha vùng đệm) trong khung thời gian từ năm 1999 đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý cho hơn 1.408 công trình di tích tại Hội An và 71 công trình đền tháp Mỹ Sơn, hướng đến cân bằng 100% mục tiêu bảo tồn khẩn cấp với duy trì tăng trưởng kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực văn hóa và lý thuyết bảo tồn thích ứng nhằm luận giải cơ chế điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia bảo vệ di sản. Luận văn phân tích 3 trường phái bảo tồn lớn trong lịch sử: bảo tồn nguyên trạng (hình thành từ năm 1850), bảo tồn trên cơ sở kế thừa và bảo tồn phát triển.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
  2. Quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa – phương thức sử dụng quyền lực công, hệ thống pháp luật và các công cụ chính sách để duy trì giá trị lịch sử.
  3. Tính xác thực và tính toàn vẹn của di sản theo tinh thần Công ước UNESCO 1972.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ hệ thống văn bản pháp luật (Hiến pháp năm 2013, Quyết định số 78/QĐ-TTg, Quyết định số 1915/QĐ-TTg, Quyết định số 3935/QĐ-UBND) kết hợp báo cáo tổng kết 20 năm công tác bảo tồn của Ban Quản lý Di sản Văn hóa Mỹ Sơn và Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.

Về quy mô khảo sát, cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 1.408 di tích được kiểm kê tại Hội An (gồm 28 di tích cấp quốc gia, 46 di tích cấp tỉnh) và 71 công trình kiến trúc đền tháp thuộc 14 nhóm tại Mỹ Sơn, kết hợp mẫu định tính gồm 150 cán bộ quản lý, nghệ nhân và chuyên gia kỹ thuật thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học thể chế kết hợp thống kê xã hội học nhằm đánh giá chính xác tác động của các quyết định hành chính đến công tác bảo tồn, đồng thời bóc tách các xung đột giữa các đạo luật chuyên ngành trong mốc thời gian nghiên cứu 1999 - 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ chế tài chính và xã hội hóa bảo tồn tại Hội An đạt hiệu quả đột phá. Trong giai đoạn 1999 - 2018, thành phố đã thực hiện tu bổ 424 công trình di tích với tổng vốn đầu tư 152 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách thành phố chiếm tỷ trọng lớn nhất với 90 tỷ đồng (khoảng 59,2%), nguồn vốn Trung ương và tỉnh đạt 37 tỷ đồng (khoảng 24,3%), nguồn vốn xã hội hóa từ người dân đóng góp 20 tỷ đồng (khoảng 13,2%), và tài trợ quốc tế đạt 3 tỷ đồng (khoảng 2,0%). Chính sách hỗ trợ kinh phí từ 40% đến 75% cho gần 100 nhà ở tư nhân có nguy cơ sụp đổ đã giúp xóa bỏ hoàn toàn tình trạng suy thoái khẩn cấp.

Thứ hai, hợp tác quốc tế tạo nên bước ngoặt kỹ thuật tại Mỹ Sơn. Dự án hợp tác ba bên UNESCO - Việt Nam - Italia đạt quy mô 1,3 triệu USD đã phục hồi thành công nhóm tháp G và nghiên cứu thành công gạch phục chế Chăm. Dự án viện trợ không hoàn lại của JICA Nhật Bản trị giá 299 triệu Yên (tương đương 43 tỷ đồng năm 2005) đã xây dựng Nhà trưng bày Mỹ Sơn. Viện Bảo tồn Di tích cũng thực hiện thành công dự án thực nghiệm tu bổ tháp E7 với kinh phí hơn 9 tỷ đồng bằng 100% ngân sách nhà nước.

Thứ ba, thiết lập mạng lưới quản lý cộng đồng và đào tạo chuyên sâu. Hội An duy trì đội ngũ 33 cộng tác viên di sản khối phố với mức hỗ trợ 120.000 đồng/người/tháng, thực hiện cấp phép tu bổ trên 200 lượt/năm qua cơ chế một cửa liên thông. Về nhân lực kỹ thuật, dự án hợp tác với Lerici Foundation (1,1 triệu USD) và ASI Ấn Độ đã đào tạo đội ngũ gần 70 thợ lành nghề bảo tồn gạch Chăm và hàng trăm nghệ nhân mộc Kim Bồng, Vân Hà.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu dữ liệu tài chính của 424 công trình tu bổ tại Hội An có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ tròn, thể hiện sự chủ động của ngân sách địa phương (59,2%) và tính bền vững của nguồn lực xã hội hóa (13,2%). Bên cạnh đó, một bảng so sánh nguồn vốn viện trợ nước ngoài (1,5 triệu USD từ ILO, 1,5 triệu USD từ FIDR, 1,3 triệu USD từ Italia và 800.000 USD từ WWF) sẽ làm rõ đóng góp của hợp tác đa phương trong việc nâng cao năng lực cho hơn 800 lượt cán bộ và cộng đồng.

Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra mâu thuẫn cốt lõi: sự tồn tại của các vùng xám thẩm quyền. Ban Quản lý Di sản Văn hóa Mỹ Sơn và Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An là đơn vị sự nghiệp, không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trực tiếp mà phải chuyển giao cấp trên xử lý. Ngoài ra, sự chồng chéo giữa Luật Di sản văn hóa với Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công và Luật Du lịch gây ra sự chậm trễ trong quy trình thẩm định các dự án bảo tồn dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và xóa bỏ vùng xám thẩm quyền. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cần kiến nghị Quốc hội và các Bộ ngành sửa đổi Luật Di sản văn hóa theo hướng trao quyền thanh tra, xử phạt hành chính trực tiếp tại chỗ cho Ban Quản lý di sản; hoàn thành đồng bộ hóa quy định bảo tồn với Luật Xây dựng và Luật Đầu tư công trước năm 2025.

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và hệ thống cảnh báo sớm. Ban Quản lý Di sản Văn hóa Mỹ Sơn cùng Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An cần mở rộng hệ thống thông tin địa lý GIS trên 100% diện tích 1.062 ha tại Mỹ Sơn và 30 ha vùng lõi Hội An; thiết lập hệ thống cảm biến đo độ ẩm, cảnh báo ngập lụt tự động và phòng chống mối mọt cho 100% công trình gỗ cổ trước mùa mưa bão hằng năm.

Thứ ba, mở rộng cơ chế tín dụng ưu đãi và đa dạng hóa nguồn tài chính. Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam cần điều chỉnh chính sách cho vay tu bổ không lãi suất từ thời hạn 3 năm lên 5 năm, nâng mức tài trợ tu bổ nhà cổ tư nhân từ mức 40% - 75% lên tối đa 85% đối với các công trình kiến trúc đặc biệt suy thoái; trích lập tối thiểu 30% doanh thu bán vé tham quan để tái đầu tư trực tiếp cho quỹ bảo tồn di tích.

Thứ tư, giãn mật độ du khách và phát triển hạ tầng vùng đệm. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam cần tổ chức phân luồng tour tuyến, mở rộng không gian du lịch sinh thái ra làng gốm Thanh Hà, làng mộc Kim Bồng và Cù Lao Chàm, nhằm giảm 25% đến 30% áp lực quá tải khách du lịch lên vùng lõi đô thị cổ Hội An trong các khung giờ cao điểm; đào tạo định kỳ 200 lượt cán bộ quản lý văn hóa cơ sở mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ ngành văn hóa - du lịch. Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn về phân cấp hành chính, quy chế phối hợp liên ngành và cơ chế một cửa liên thông trong cấp phép xây dựng, áp dụng trực tiếp cho các địa phương sở hữu di sản văn hóa.

Thứ tư, các cơ quan quy hoạch kiến trúc và ban quản lý di tích toàn quốc. Nhóm này có thể ứng dụng các bài học kinh nghiệm về quy trình thực nghiệm tu bổ tháp gạch nung Chăm, giải pháp sử dụng vật liệu phục chế thay thế và phương án bảo vệ 1.158 ha rừng đặc dụng cảnh quan bao quanh di tích.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật, Quản lý văn hóa. Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên sâu về việc giải quyết xung đột giữa Luật Di sản văn hóa với các luật chuyên ngành khác, cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về thể chế di sản tại Việt Nam.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia bảo tồn quốc tế. Luận văn là cơ sở tham khảo giá trị về phương thức giải ngân nguồn vốn viện trợ ODA, hiệu quả của các dự án đào tạo kỹ thuật bảo tồn của UNESCO, JICA, ASI và quy trình huy động sự tham gia của cộng đồng bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động quản lý nhà nước về di sản tại Quảng Nam có đặc thù gì khác biệt? Quảng Nam là địa phương duy nhất quản lý đồng thời hai loại hình di sản thế giới: quần thể phế tích đền tháp tôn giáo bằng gạch nung nghìn năm tuổi tại Mỹ Sơn và một đô thị cảng thị sống với hơn 1.408 công trình kiến trúc tại Hội An.

Chính sách hỗ trợ vốn tu bổ nhà cổ Hội An vận hành như thế nào? Thành phố thực hiện cơ chế hỗ trợ trực tiếp từ 40% đến 75% kinh phí tu bổ cho chủ sở hữu di tích tư nhân có nguy cơ sụp đổ, đồng thời áp dụng chính sách tạm ứng ngân sách cho vay vốn ưu đãi với lãi suất 0% trong thời hạn 3 năm.

Thách thức lớn nhất trong việc bảo tồn nhóm tháp Chăm Mỹ Sơn là gì? Thách thức lớn nhất nằm ở kỹ thuật phục chế chất kết dính và gạch nung Chăm cổ mà không làm biến dạng di tích gốc, đòi hỏi phải thực hiện dự án hợp tác quốc tế kéo dài 10 năm với tổ chức Lerici Foundation của Italia để tìm ra vật liệu tương thích.

Tại sao Ban Quản lý Di sản gặp khó khăn trong việc xử lý vi phạm trật tự xây dựng? Do Ban Quản lý Di sản là đơn vị sự nghiệp công lập, không có thẩm quyền lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính độc lập theo quy định pháp luật hiện hành mà phải phối hợp và chờ quyết định xử lý từ chính quyền cấp xã, phường hoặc Thanh tra Sở Xây dựng.

Công tác giáo dục di sản tại địa phương được triển khai qua những kênh nào? Chính quyền huyện Duy Xuyên và thành phố Hội An đã biên soạn, phát hành hơn 2.000 tài liệu giảng dạy tích hợp văn hóa di sản vào chương trình chính khóa lớp 1 và lớp 6, kết hợp tổ chức các hội thi hướng dẫn viên di sản học đường.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với 2 Di sản Văn hóa Thế giới tại Quảng Nam trong chặng đường 20 năm từ năm 1999 đến năm 2020.
  • Làm rõ thành tựu bảo tồn 424 công trình tại Hội An với tổng kinh phí 152 tỷ đồng và cứu nguy thành công nhiều nhóm tháp trọng yếu A, G, H, K tại Mỹ Sơn.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn thể chế về vùng xám thẩm quyền của cơ quan quản lý chuyên trách và mâu thuẫn giữa các luật chuyên ngành.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược về hoàn thiện thể chế, ứng dụng công nghệ GIS, nới rộng biên độ chính sách tài chính và phân luồng du lịch bền vững giai đoạn 2021 - 2030.
  • Khẳng định giá trị ứng dụng cao cho các nhà hoạch định chính sách văn hóa và cơ quan quản lý di tích trên phạm vi toàn quốc; kêu gọi đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số và hoàn thiện quy chế quản trị di sản bền vững.