CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 1. Khái niệm, quan điểm, vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa 1. Di sản văn hóa Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh mới ở nước ta. “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa.
Theo Điều 1 của Công ước Di sản Thế giới Di sản văn hóa là Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học; các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan; các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học. Di sản văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mang giá trị lịch sử - văn hóa, khoa học, thẩm mỹ do các thế hệ trước sáng tạo và lưu truyền lại cho các thế hệ sau; là tài sản vô giá không phải hàng hóa để trao đổi, mua bán; nó là công cụ gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là nền tảng, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001: 7 Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
(Điều 1- Luật Di sản văn hóa) Di sản văn hóa là di sản của các hiện vật vật lý và các thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay xã hội được kế thừa từ các thế hệ trước, đã duy trì đến hiện nay và dành cho các thế hệ mai sau. Di sản văn hóa bao gồm tài sản văn hóa, văn hóa phi vật thể và di sản tự nhiên. Di sản văn hóa, nói một cách chung nhất là sản phẩm vật chất và tinh thần (gồm văn hóa vật thể, phi vật thể) do con người hoặc thiên nhiên tạo ra và được sử dụng, từ đó hình thành các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đặc biệt là nó thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc. Các dân tộc Việt Nam đã sáng tạo nên một gia tài những giá trị văn hóa giàu có và độc đáo.
Sự giàu có, độc đáo không chỉ thể hiện ở những đặc trưng văn hóa nói chung mang bản sắc dân tộc Việt Nam, mà nó còn bộc lộ ở những nét riêng, rất đặc sắc trong di sản văn hóa mỗi tộc người, mỗi vùng, địa phương trên đất nước. Chính nhờ có những giá trị văn hóa đã hun đúc, kết tinh thành bản sắc dân tộc và tạo nên bản lĩnh dân tộc, ngược lại nhờ có bản lĩnh dân tộc mà giữ được bản sắc dân tộc. Di sản văn hóa phi vật thể - Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.1- Luật Di sản văn hóa). 8 Di sản văn hóa vật thể Theo Điều 4.2 - Luật Di sản văn hóa thì di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
- Bảo tồn là bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó. - Bảo tồn di sản văn hóa là những hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định của di sản văn hóa để sử dụng và phát huy giá trị của di sản văn hóa đó. Khái niệm quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa Quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa có thể hiểu là quản lý hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, trước hết, để giữ gìn lâu dài các giá trị văn hóa tiêu biểu của đất nước trong các di sản văn hóa với tư cách là kinh nghiệm sống, bài học lịch sử có ích cho xã hội. Bên cạnh đó, quản lý hoạt động bảo tồn di sản văn hóa còn phục vụ mục tiêu giáo dục, hình thành các nhân cách văn hóa và xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, nguồn thông tin khoa học chân thực, có khả năng cung cấp tri thức, hiểu biết, là những nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững.
Tuy nhiên, quản lý nhà nước về văn hóa phải căn bản dựa trên mục tiêu phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa các hoạt động văn hóa nói chung và hoạt động bảo tồn di sản văn hóa nói riêng [2] 1. Quan điểm của quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa Quan điểm cơ bản chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam đã được xác định rõ trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đó là “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”. Qua đó ta thấy, 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo phát triển văn hóa của Việt Nam là tương đối thống nhất với các quan điểm về chính sách văn hóa mà nhiều quốc gia 9 khác cũng đang theo đuổi.
Đó là: gắn văn hóa với hệ tư tưởng - chính trị; văn hóa thể hiện đặc trưng dân tộc; sản phẩm văn hóa là một loại hàng hóa. Có thể hiểu, văn hóa luôn gắn bó máu thịt với dân tộc và tư tưởng, chính trị, đồng thời còn được nhìn nhận là loại hàng hóa đặc biệt bởi vậy các quốc gia luôn hướng hoạt động văn hóa vào 3 mục tiêu lớn là: bảo vệ di sản và khuyến khích hoạt động sáng tạo; đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng của tất cả mọi người đối với văn hóa; tạo cơ hội cho tất cả mọi người tham gia vào sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ văn hóa. Về bảo tồn di sản văn hóa đã được các nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới nghiên cứu theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, các nhà khoa học đều cho rằng tùy thuộc vào từng loại hình di sản mà đưa ra các quan điểm bảo tồn khác nhau để vừa giữ được những giá trị nguyên gốc nhưng vẫn phát huy được giá trị của nó trong xã hội đương đại.
Quan điểm bảo tồn nguyên trạng Đây là quan điểm đã phát triển từ những năm 1850 trên thế giới và thịnh hành trong một thời gian khá dài, gần giống như đóng vai trò chủ đạo đối với cách thức quản lý di sản văn hóa ở nhiều quốc gia. Những người theo quan điểm bảo tồn nguyên trạng cho rằng cần phải giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, những thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải mã và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách trung thành nhất. Trên thực tế quan điểm bảo tồn nguyên trạng được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt là các nhà bảo tàng học. Tuy nhiên, thực tế là di sản văn hóa phi vật thể vốn tồn tại và phát triển theo dòng thời gian lịch sử, tất yếu sẽ phát sinh những yếu tố mới, những thay đổi cho phù hợp với thời đại và sẽ đến lúc rất khó xác định được đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phát sinh trong quá trình phát triển.
Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa Quan điểm này dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học thuật hiện nay khi bàn đến vấn để bảo tồn và phát huy di sản. Dựa trên cơ sở lý thuyết cho rằng mỗi di sản chỉ có thể thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian 10 và không gian nhất định. Quan điểm này cho rằng di sản ấy cần phải được phát huy giá trị phù hợp với xã hội hiện nay, đồng thời phải loại bỏ những gì không phù hợp với thời đại, không còn thích hợp với xã hội mới. Do vậy bảo tồn kế thừa không phải là cố gắng dập khuôn nguyên gốc, khư khư giữ nguyên như cũ, bất di bất dịch, mà là bảo tồn vừa có sự kế thừa vừa có sự bổ sung những yếu tố mới, làm cho nó tương thích và có sức sống trong hoàn cảnh mới.
Quan điểm bảo tồn phát triển Những người theo quan điểm này không bận tâm tới việc tranh cãi nên bảo tồn y nguyên như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ, mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong bối cảnh đương đại.