CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Nghiên cứu về di sản văn hóa, di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa vật thể thế giới Nghiên cứu về di sản văn hóa, di sản VHVTTG được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Việc nghiên cứu được tiếp cận dưới nhiều góc độ của các ngành khoa học.
Một số công trình nghiên cứu liên quan như: Công trình nghiên cứu “Managing Tourism at World Heritage Sites” (Quản lý du lịch tại các khu di sản thế giới) của tác giả Arthur Pederson, xuất bản năm 2002 [165], dưới sự hỗ trợ sáng kiến cho Trung tâm Di sản thế giới của UNESCO là tổ chức TEMA và UNEP (Chương trình Môi trường của Liên hiệp Quốc). Đây là tài liệu hướng dẫn cho các nhà quản lý thuộc các khu di sản thế giới. Nội dung nghiên cứu được đề cập đồng thời cũng là tài liệu hướng dẫn cho những người làm công tác du lịch, giúp họ có thể đồng hành với các nhà quản lý để đảm bảo sự phát triển bền vững tại các khu di sản thế giới. Nội dung tài liệu đã đề cập tới các vấn đề như: tiếp thị và xử lý rủi ro trong thương trường, quản lý kinh doanh, phương pháp tiếp cận thực tế.
Những lý luận này có thể giúp cho nhà quản lý các khu di sản thế giới trong việc hoạch định và phát triển các kế hoạch tổng thể của khu di sản phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Cuốn sách tiếng Việt của Paul Eagles: “Du lịch bền vững trong những khu vực được bảo vệ” do Ủy ban Liên chính phủ Bảo vệ Di sản Bảo toàn Thiên nhiên Thế giới (UNEP, IUCN) và Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) xuất bản năm 2002 [181]. Nội dung cuốn sách đề cập đến du lịch và những vấn đề du lịch trong các khu di sản văn hóa được bảo vệ. Nội dung cuốn sách đã phản ánh mối quan hệ giữa hoạt động phát triển du lịch bền vững với bảo tồn di sản trong các khu vực di sản được bảo vệ.
10 Cuốn sách “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập” của tác giả Ngô Đức Thịnh (Chủ biên) (2009), NXB. Chính trị Quốc gia - Sự thật [131]. Nội dung cuốn sách nêu những cơ hội và thách thức trong hoạt động bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Nội dung nghiên cứu cũng đề cập đến trách nhiệm và hành động của con người trong việc gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống.
Cuốn sách “Đình Chùa Lăng Miếu - Di sản văn hóa vật thể của người Việt tại thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Hồ Sơn Diệp và Nguyễn Văn Hiệp, do NXB. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2013 [40]. Nội dung nghiên cứu về thiết chế văn hóa tâm linh, đặc điểm và hiện trạng Đình Chùa Lăng Miếu, một số Đình Chùa Lăng Miếu tiêu biểu của người Việt và vấn đề bảo tồn giá trị văn hóa vật thể của Đình Chùa Lăng Miếu của người Việt ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đô thị hóa. Cuốn sách “Di sản văn hóa Việt Nam, Bản sắc và những vấn đề về quản lý, bảo tồn” của tác giả Nguyễn Thịnh, do NXB.
Xây dựng phát hành năm 2012 [132]. Nội dung nghiên cứu đề cập đến sự tác động của yếu tố kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đến những DSVH ở Việt Nam; Làm thế nào để bảo tồn được những DSVH và giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam trước tác động của văn hóa ngoại lai; sự hòa nhập văn hóa Việt Nam với văn hóa thế giới nhưng không bị hòa tan. Bài viết của tác giả Phạm Sanh Châu: “Sức sống cho sự tồn tại của di sản văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa số 34 (2011) [18]. Tác giả đã nghiên cứu và đưa ra nhận định sâu sắc về DSVH Việt Nam, các DSVH vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản VHVTTG.
Bài viết có nêu, danh hiệu UNESCO rất uy tín, bởi vì, UNESCO là tổ chức chuyên môn duy nhất trong hệ thống Liên Hợp Quốc, được giao chức năng công nhận danh hiệu di sản trên thế giới, UNESCO đã góp phần làm sống lại và nâng cao hình ảnh cho di sản đất nước Việt Nam. UNESCO xây dựng được mạng lưới chuyên gia ở khắp nơi cùng với 11 các tiêu chí xét duyệt khắt khe thông qua các văn bản pháp lý như công ước, tuyên bố, chương trình và cuối cùng là luôn có một hội đồng được hình thành với các tiêu chí khác nhau để xem xét có hay không công nhận một di sản. Vì vậy, khi đạt được danh hiệu di sản của UNESCO trao tặng, có nghĩa là di sản đó sẽ được khẳng định vị thế của mình trên phạm vi toàn cầu. Đối với các DSVH vật thể tại Việt Nam, kể từ khi được UNESCO công nhận, hoạt động bảo tồn di sản VHVTTG đã được quan tâm đáng kể.
Với sự nhìn nhận di sản VHVTTG vừa là tài sản riêng của quốc gia, nhưng đồng thời là tài sản chung của nhân loại, do đó việc bảo tồn các di sản VHVTTG ngày càng được quan tâm hơn. Bài viết “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa” của tác giả Lưu Trần Tiêu, được Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật ấn bản năm 2002 [137]. Tập sách ra đời với mong muốn góp phần giúp bạn đọc sẽ tiếp cận được con đường khoa học, lĩnh vực khoa học mà một nhà khoa học của ngành Văn hóa, Thông tin từng dành tâm huyết và trí tuệ để thực hiện. Kết quả nghiên cứu của tác giả muốn mọi người hiểu rõ thêm về DSVH Việt Nam, tự hào và trân trọng DSVH dân tộc.
Cuốn sách “Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập 7” của nhiều tác giả, NXB. Tác phẩm được hoàn thiện với nguồn tài liệu của Cục Di sản văn hóa, gồm các bài viết của nhiều tác giả, tập trung vào 3 nội dung chính: văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và bảo tàng. Cuốn sách đã viết về sự đa dạng của DSVH Việt Nam, cách tiếp cận về bảo tồn và phát huy những giá trị DSVH Việt Nam. Cuốn sách “Di sản thế giới, Văn hóa - Tự nhiên - Hỗn hợp” của tác giả Bùi Đẹp do NXB.
Trẻ Hà Nội xuất bản năm 1999 [51]. Nội dung cuốn sách đã tổng hợp các công trình kiến trúc như: cung điện, đền đài, thành quách, những công trình là di sản do con người và thiên nhiên tạo nên, sống mãi với thời gian mà ngày nay chúng ta cũng nhìn thấy những kiệt tác vô giá đã trải qua hàng nghìn năm vẫn còn nguyên giá trị với nhân loại. Cuốn sách “Những di sản nổi tiếng thế giới”, do tác giả Trần Mạnh Tường biên soạn, NXB. Văn hoá - Thông tin phát hành năm 2000 [143].
Nội dung cuốn 12 sách đã tổng hợp 630 DSVH và thiên nhiên được UNESCO công nhận là di sản thế giới, trong đó Việt Nam được công nhận 4 di sản: Vịnh Hạ Long, Quần thể kiến trúc Cung đình Huế, Đô thị cổ Hội An và Di tích Mỹ Sơn. Luận án tiến sĩ “Khai thác hợp lý các di sản văn hoá thế giới nhằm phát triển du lịch miền Trung Việt Nam”, năm 2012, của Nguyễn Thị Thống Nhất [110]. Tác giả nghiên cứu về vai trò của DSVH thế giới đối với du lịch Việt Nam và du lịch miền Trung. Miền Trung tập hợp rất nhiều di sản VHVTTG, như: quần thể di tích Cố đô Huế, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Phố cổ Hội An.
Nội dung luận án đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của DSVH thế giới, bởi các DSVH vật thể này gắn liền quá khứ với hiện tại, giúp con người nhận thức giá trị của văn hóa truyền thống trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước và con người. Tuy nhiên, DSVH cũng rất mong manh, nếu như không giữ gìn cẩn thận thì nguy cơ bị hư hại, trở thành phế tích là rất cao. Dó đó, vấn đề bảo tồn một cách hợp lý để phát huy giá trị DSVH thế giới phải được đặt lên hàng đầu, để vừa đảm bảo khai thác di sản mang về giá trị kinh tế cho đất nước, nhưng cũng phải bảo đảm được nguyên vẹn hiện trạng của DSVH thế giới cho các thế hệ mai sau. Cuốn sách “Bảo vật hoàng cung triều Nguyễn”, Nguyễn Văn Cường (Chủ biên), xuất bản năm 2016 [36].
Nội dung cuốn sách nói về DSVH triều Nguyễn. DSVH cung đình triều Nguyễn là một bộ phận hợp thành kho tàng DSVH dân tộc. Tuy nhiên, tác giả cũng nêu rõ, sự tác động của toàn cầu hóa và hội nhập, rất cần một chiến lược đúng đắn, cùng với những kế hoạch, giải pháp cụ thể để khai thác và bảo tồn DSVH vật thể Cố đô Huế, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững. Đây không chỉ là công việc của các nhà quản lý văn hóa, quản lý DSVH mà còn là trách nhiệm, sự chung tay, nỗ lực của cả cộng đồng và xã hội.
Những công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới Kỷ yếu hội thảo “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa và hình ảnh điểm đến du lịch tại các tỉnh miền Trung”, Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức ngày 31/5/2015 tại thành phố Huế [72]. 13 Các tham luận tập trung vào những nội dung sau: Giải quyết mối quan hệ giữa khai thác với bảo tồn DSVH; Liên kết vùng trong việc phát huy giá trị DSVH các tỉnh miền Trung; Xây dựng thương hiệu và quảng bá hoạt động điểm đến du lịch miền Trung; Phát triển bền vững du lịch DSVH Huế theo hướng quản lý tổng thể và đồng bộ; Phát triển lễ hội các chùa ở Huế nhằm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh. Tại hội thảo, các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã chia sẻ những kinh nghiệm về QLNN về DSVH và phát huy lợi thế khu di sản để phát triển du lịch, từ đó có một cách nhìn toàn diện trong QLNN về DSVH trong thời gian tới.