Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa vật thể đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa vật thể đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.
Một số khái niệm liên quan đến quản lý nhà nƣớc về di sản văn hóa vật thể đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững 1. Di sản văn hóa vật thể Văn hóa Đây là khái niệm bao quát một phạm vi rộng lớn. Trong đời sống, khái niệm văn hoá được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau. Theo thống kê, trên thế giới hiện có gần một nghìn định nghĩa khác nhau về văn hoá.
Văn hoá: gốc La tinh là cultus, nghĩa là “trồng trọt”, từ này phát triển ra nghĩa “chăm sóc” (cây cối), từ “chăm sóc” (cây cối) đến “chăm sóc‟ (con người) = giáo dục. Trong các ngôn ngữ phương Tây, từ “văn hoá” bắt nguồn từ chữ cultus (culture, cultura) đều có ý nghĩa liên quan đến chăm sóc, giáo dục. Theo quan niệm của Trung Quốc, “văn” vốn có nghĩa là “đẹp”, “hoá = trở thành”, “văn hoá” có nghĩa là “trở thành đẹp, thành giá trị”. Ở Việt Nam: Văn hoá được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau.
Trong Tiếng Việt, văn hoá được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hoá), lối sống (nếp sống văn hoá), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn (văn hoá Đông Sơn). Tuy nhiên, giới nghiên cứu vẫn thường nhắc tới một vài định nghĩa tiêu biểu như định nghĩa của GS. Đào Duy Anh, GS. Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm.
Đào Duy Anh định nghĩa ngắn gọn: “Văn hoá là sinh hoạt của con người về mọi phương diện sinh hoạt”. Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [1, tr. 8 Luan van Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [18, tr.20] Tuy có nhiều cách hiểu với nội dung khác nhau song các khái niệm về văn hoá này đều xoay quanh các điểm chính: (1) Văn hoá là giá trị; (2) những giá trị đó phải do con người sáng tạo ra (phân biệt với cái tự nhiên); (3) sự sáng tạo đó là cả một quá trình lịch sử liên tục; (4) những giá trị đó phải làm thành một hệ thống chặt chẽ. Di sản văn hóa Theo Công ước di sản thế giới (do Đại hội đồng UNESCO soạn thảo năm 1972, đến nay đã có sự tham gia của gần 180 quốc gia và khu vực) thì di sản gồm 3 loại: Di sản văn hoá, di sản thiên nhiên và di sản hỗn hợp.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đề cập tới loại hình di sản văn hoá, đặc biệt là di sản văn hóa vật thể. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại. Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại.
Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên" [42,tr. Khái niệm di sản văn hóa trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một quá trình hình thành khá lâu dài. Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789.
Quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát và phá hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi 9 Luan van phục và bảo tồn di sản quốc gia. Di sản lúc đó được hiểu như “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia” [20]. Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”.
Như vậy, DSVH được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. DSVH là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học.mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau. Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [23, tr 7]. Di sản văn hóa vật thể Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản phẩm văn hóa có thể “sờ thấy được”.
Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định. DSVHVT được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt. Văn hóa vật thể được khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người. DSVHVT luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau.
DSVHVT luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc. Hiện nay, vấn đề bảo tồn những DSVHVT lâu đời đòi hỏi công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ. 10 Luan van Theo Công ước di sản thế giới, DSVHVT bao gồm: - Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội hoạ, các yếu tố hay cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Quần thể các công trình xây dựng: Quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau là do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
Các di chỉ: Các tác phẩm do con người sáng tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo, các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học. Điều 4, Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua năm 2001 giải nghĩa: DSVHVT là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Trong đó: (1) Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học; (2) danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học; (3) di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học; (4) cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên. Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học [23, tr 9, 10].
Phát triển bền vững Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yếu. Tư duy về phát triển bền vững manh nha trong cả quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội. Chính vì thế, năm 1992 Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó phát triển bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”.