Chương 1: LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 1. Di sản văn hóa phi vật thể 1. Một số khái niệm liên quan 1. Văn hóa Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)… Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm, từ tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động [58, tr.
Theo nghĩa hẹp, Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội; Văn hóa là hệ thống các giá trị, truyền thống, lối sống; Văn hóa là năng lực sáng tạo của một dân tộc; Văn hóa là bản sắc của một dân tộc, là cái phân biệt dân tộc này với dân tộc khác… Tổng Thư ký UNESCO Federico Mayor định nghĩa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình" [2, tr. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [88]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết quan điểm của mình về văn hoá thông qua nhận định sau: "Ý nghĩa của văn hoá: vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ 10 viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.
Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [32, tr. Quan điểm trên Bác đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù văn hoá. Theo đó, văn hoá không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà còn cả những hoạt động vật chất, trong đó chứa đựng, phản ánh tác động của tư duy đến kết quả của hoạt động. Đồng thời, nó cũng chỉ ra nguồn gốc, động lực sâu xa của văn hoá - đó là nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách chủ thể hoạt động của đời sống xã hội - một hoạt động khác hẳn với hoạt động mang tính bản năng, bầy đàn của các loài động vật khác.
Theo ý nghĩa này, chất văn hoá được hàm chứa, thể hiện trong mọi hoạt động, kể cả hoạt động tinh thần lẫn hoạt động vật chất, cùng với các giá trị mà con người sáng tạo ra trong hoạt động của mình. Theo quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn hóa là một hệ thống những giá trị về vật chất và tinh thần do con người tích lũy và sáng tạo được trong quá trình cộng cư với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, mang tính bền vững và truyền thống [75, tr. Theo quan điểm của tác giả: Văn hóa là một hệ thống những giá trị mang tính nhân văn, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội do con người tích lũy, sáng tạo ra trong sự tương tác với các yếu tố môi trường xung quanh, trong đó nhiều giá trị, biểu hiện văn hóa riêng lẻ tập hợp thành một hệ thống gọi là bản sắc văn hóa có liên kết chặt chẽ, bền vững và đồng bộ với nhau. Di sản văn hóa Theo Từ điển Tiếng Việt, di sản là cái của thời trước để lại [37, tr.
11 Di sản văn hóa theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên.
Luật Di sản văn hóa 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) định nghĩa: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [40, tr. Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc, luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ lẫn nhau, nhưng có tính độc lập tương đối. Di sản văn hóa vật thể tồn tại dưới dạng công trình, địa điểm, di vật, cổ vật là kết tinh của trí tuệ, tài năng của những người thợ thủ công qua nhiều thời đại, còn di sản văn hóa phi vật thể lại là cái vô hình, tiềm ẩn trong trí nhớ và được biểu hiện thông qua hành vi và các kỹ năng, bí quyết do nghệ nhân nắm giữ - chủ thể sáng tạo di sản, di sản đó được lưu truyền lại bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề thông qua thực hành, trình diễn. Di sản văn hóa phi vật thể “Di sản “Văn hóa phi vật thể” (intangible culture) được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là các công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm và một số trường hợp là cá nhân công nhận là di sản văn hóa của họ.
Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và nhóm không ngừng tái tạo để có thể thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng 12 tạo của con người” [69, tr. Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [40, tr. Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể. Đặc trưng của di sản văn hóa phi vật thể Là một bộ phận của di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể có vị trí và vai trò quan trọng, góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng cho kho tàng di sản văn hóa của nhân loại.
Di sản văn hóa phi vật thể gắn chặt với sáng tạo của mỗi cá nhân hoặc nhóm người sở hữu bí quyết nghề nghiệp, cách thức truyền nghề. Di sản văn hóa phi vật thể dễ bị mai một, thất truyền bởi các đặc trưng [67]: Là di sản “sống”, tồn tại cùng những con người cụ thể và chỉ được biểu hiện bằng hành vi, cử chỉ, ngôn từ của họ với sự phụ trợ của những công cụ khác nhau như nhạc cụ, trạng phục, vật liệu sản xuất,… trong môi trường thực hành, diễn xướng cụ thể; Là sản phẩm tinh thần của cộng đồng được tích lũy qua nhiều thế hệ nhưng lại biểu hiện qua sự tiếp nhận và hành vi của từng con người cụ thể nên mang dấu ấn cá nhân và vai trò sáng tạo của cá nhân; Được duy trì thông qua phương thức truyền miệng, truyền nghề, phụ thuộc vào trí nhớ và ý thức chủ quan của cá nhân nắm giữ, thực hành, tái tạo và chuyển giao nên di sản văn hóa phi vật thể rất “mong manh” và hàm chứa 13 đặc tính biến đổi qua thời gian. Nói một cách dễ hiểu, khi nghệ nhân qua đời thì kỹ năng, bí quyết do nghệ nhân đó nắm giữ có thể mất đi vĩnh viễn; Được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và có thể được bồi đắp, biến đổi theo thời gian nên rất khó xác định tính nguyên bản, tính chân xác lịch sử. Trước đây, do nhận thức chưa đầy đủ về di sản văn hóa phi vật thể, coi nó chỉ là một bộ phận phụ thuộc của di sản văn hóa vật thể (thực tế có cả phụ thuộc và không phụ thuộc) mà không phải là một di sản có tính độc lập tương đối.
Vì thế, việc bảo vệ và phát huy giá trị đã chưa được quan tâm thỏa đáng, dẫn đến tình trạng nhiều giá trị văn hóa phi vật thể bị biến dạng và thậm chí mai một, thất truyền. Trong xã hội hiện nay, tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn. Di sản văn hóa phi vật thể chứa đựng các mặt giá trị tiêu biểu sau đây: - Giá trị lịch sử: gắn với những sự kiện hay ký ức lịch sử quan trọng, những nhân vật lịch sử và huyền thoại, những anh hùng văn hóa có tầm ảnh hưởng lớn, có công lao với cộng đồng, đất nước; - Giá trị văn hóa: thể hiện tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ tạo nên bản sắc văn hóa của cộng đồng, qua đó biểu hiện nét độc đáo về văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc; nơi gìn giữ những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc; - Giá trị khoa học: gắn với những tri thức về tự nhiên và xã hội, những kiến thức, hiểu biết và kinh nghiệm sống được tích lũy trong quá trình hoạt động của con người; - Giá trị kinh tế: là phương tiện giao lưu văn hóa đồng thời là một sản phẩm văn hóa, sản phẩm thủ công truyền thống hấp dẫn phục vụ du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.