phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm Khái niệm di sản văn hóa Di sản văn hóa dân tộc là tài sản quý giá của mỗi quốc gia, là linh hồn của dân tộc. là biểu hiện rõ nét của bản sắc văn hóa dân tộc, là nền tảng tinh thần, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đặc biệt quan trọng trong thời đại toàn cấu hòa hiện nay.
Tính đến nay, cả nƣớc đã thống kê đƣợc trên 4000 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 2.882 di tích đƣợc xếp hạng cấp quốc gia, và di tích đặc biệt, và có 4.286 di tích đƣợc xếp hạng cấp tỉnh. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì: “Di sản là cái của thời đại trước để lại” [50, tr. Theo Đại từ điển tiếng Việt do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam – Bộ Giáo dục và đào tạo, Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên đã nêu di sản nhƣ sau: “Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại: di sản văn hóa”.533] Theo văn kiện đƣợc Đại hội đồng ICOMOS (Hội đồng quốc tế các di tích và di chỉ: International Council Museum Organisation and Sites) lần thứ 11 ở Sofia (Bungari) tháng 10.1966 phê chuẩn: “Di sản văn hóa là để chỉ những di tích, những cụm kiến trúc và những di chỉ có giá trị di sản, tạo thành môi trường lịch sử hoặc môi trường xây dựng”.25] Nhƣ vậy, di sản là một khái niệm rộng bao gồm tất cả những thành tố vật thể và phi vật thể nằm trong môi trƣờng tƣ nhiên và môi trƣờng văn hóa – xã hội: bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các tổng thể vật chất và tinh thần thuộc về lịch sử, các di chỉ tự nhiên và do con ngƣời xây dựng. Chính vì vậy, di sản văn hóa chính là minh chứng sống động của sự vận động, giao thoa và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời phản ánh những đặc trƣng cơ bản để làm rõ sự khác nhau 13 giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác trong môi trƣờng, cảnh quan cụ thể của thời gian và không gian.
Luật Di sản văn hóa đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 (họp từ ngày 22/5 đến 29//6/2001) thông qua, thì: “Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [27, tr.12] Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu giữ trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ, lƣu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miện, diễn xƣớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thông, trí thức về y, dƣợc học, cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.8] Khái niệm di tích Thuật ngữ di tích lịch sử văn hóa ở nhiều quốc gia trên thế giới đều dùng với nghĩa chung nhất, rộng nhất là các dấu tích, dấu vết còn lại trong lịch sử sáng tạo văn hóa con ngƣời (theo nghĩa tiếng Anh: vestige, theo nghĩa tiếng Pháp: vestige, theo nghĩa tiếng Nga: Pomiatnic, và theo tiếng Hán Việt: Cổ tích). Theo Hán Việt từ điển, Di: sót lại, rơi lại, để lại [1, tr. Tích: tàn tích, dấu tích [1, tr.
Di tích là dấu vết của quá khứ còn lƣu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất, có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hóa, nghệ thuật đối với các thế hệ sau. Nghị định số 92/2002/NĐ – CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều Luật di sản văn hóa (gọi tắt là Nghị định số 92); Điều 14, nêu rõ: “Di tích quy định tại điều 29 Luật di sản văn hóa là các di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh”. Nghị định số 98 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa; tại điều 2, điểm 14 2 quy định di sản văn hóa vật thể bao gồm: “Di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh” (gọi là di tích); “Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”. Theo Điều 29, Luật Di sản văn hóa, năm 2001 có sửa đổi bổ sung năm 2009, nêu rõ: “Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích)”.
[15] Khái niệm di tích lịch sử văn hóa Di tích lịch sử văn hoá là một thành tố quan trọng cấu thành di sản văn hóa, là tài sản vô giá của mỗi quốc gia. Gọi là di tích lịch sử văn hóa bởi vì chúng đƣợc tạo ra từ con ngƣời (tập thể hoặc cá nhân), là kết quả của hoạt động sáng tạo lịch sử, văn hóa của con ngƣời. Ở nƣớc ta, cũng có nhiều qui định về di tích lịch sử văn hóa, theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu khảo cổ học, sử học… Di tích là di sản văn hóa lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển thay đổi, phá hủy”.533] Pháp lệnh số 14 - LCT/HĐND của Hội đồng nhà nƣớc, nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng DTLS VH và danh lam thắng cảnh quy định rõ: “DTLS VH là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”.3] Theo khoản 3, Điều 4, Luật Di sản văn hóa năm 2001 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm và các di vật, cổ vật bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [27, tr.13] Khái niệm về quản lý Thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu nhiều cách khác nhau. Trong tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” đƣợc hiểu là trông nom, theo dõi, sắp xếp công việc hoặc gìn giữ.
Các nƣớc phƣơng Tây dùng từ “management” có thể hiểu theo hai nghĩa lãnh đạo hoặc quản lý tùy thuộc vào trƣờng hợp cụ thể mà ngƣời dùng quyết định. 15 Để hiểu đƣợc quản lý đòi hỏi: Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, cũng nhƣ một dàn nhạc thì cần có nhạc trƣởng [12, tr.480] Quản lý là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trong mỗi lĩnh vực, phạm vi hoặc mỗi ngành nghề nghiên cứu, ứng dụng và vận hành quản lý ở mỗi góc độ riêng biệt, các định nghĩa riêng về quản lý của lĩnh vực hoặc ngành khoa học đó. Thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhƣng chƣa có một định nghĩa thống nhất.
Về thuật ngữ quản ý khác nhau.Taylor, nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, xuất phát từ nhu cầu khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phƣơng tiện lao động nhằm tăng cƣờng năng suất lao động. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ một góc độ riêng và đƣa ra đình nghĩa riêng về “Quản lý”. Theo Điều khiển học thì khái niệm “Quản lý” đƣợc hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để điều khiển, chỉ đạo sự vận động (diễn biến) của nó theo những quy luận nhất định nhằm đạt đƣợc những mục đích hay kế hoạch mà ngƣời quản lý đã đề ra từ trƣớc. Trong từ điển tiếng Việt, khái niệm quản lý đƣợc hiểu: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [53, Tr.
Quản lý là một khoa học và nghệ thuật vì nó tuân thủ chặt chẽ các thao tác hợp quy luận, hơn thế nữa đòi hỏi phải có kinh nghiệm, có tầm nhìn, dự báo tƣơng lai, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để có thể xử lý tốt các mối quan hệ, đƣa đến hiệu quả tối ƣu. Nhƣ vậy, quản lý cần phải có hai yếu tố cơ bản đó là đối tƣợng thực hiện chức năng quản lý và đối tƣợng bị quản lý. Với ý nghĩa thông thƣờng, thì quản lý đƣợc hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hƣớng của chủ thể quản lý vào một đối tƣợng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con ngƣời nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tƣợng theo 16 những mục tiêu đã định [26, tr. Từ nhận định trên ta có thể hiểu đƣợc ở đây đối tƣợng thực hiện chức năng quản lý sẽ là các cơ quan quản lý nhà nƣớc về văn hóa, còn đối tƣợng bị quản lý ở đây sẽ là di sản văn hóa.
Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể là con ngƣời hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tƣợng quản lý bằng công cụ với những phƣơng pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định.