Chương 1: Cơ sở lí luận về dân cư và ĐTH. Chương 2: Biến động dân cư trong quá trình ĐTH ở tỉnh Bình Dương từ 1997 đến 2009. Chương 3: Định hướng, giải pháp phát triển dân số, phân bố dân cư và đẩy mạnh quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương đến năm 2020. Chương1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DÂN CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA 1.1 Khái niệm dân số Dân số là đại lượng tuyệt đối để chỉ số người trong một đơn vị hành chính (xã, phường, huyện, tỉnh, vùng) hay một quốc gia, một châu lục hoặc cả hành tinh tại một thời điểm nhất định.
Nói cách khác, dân số chính là tổng số người dân sinh sống trên một đơn vị lãnh thổ nhất định ở một thời điểm nhất định.2 Gia tăng dân số Thể hiện tình hình biến động dân số của một quốc gia, một vùng lãnh thổ … được thể hiện bằng tổng số gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng dân số cơ học.1 Gia tăng dân số tự nhiên (Natural Increase): là hiệu số giữa số sinh và số tử trong một thời gian nhất định. - Tỉ suất sinh: Có nhiều thước đo mức độ sinh, dưới đây là một số thước đo thường được dùng trong nghiên cứu dân số. + Tỉ suất sinh thô (Crude Birth Rate) là tương quan giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ở cùng thời điểm. Tỉ suất sinh thô được tính bằng đơn vị phần nghìn (0/00).
B CBR = P B: Số trẻ em sinh ra trong một năm của một nước hay một khu vực nào đó. P: Dân số trung bình trong năm Theo tổ chức Y tế thế giới WHO nếu tỉ suất sinh thô đạt: - Dưới 160/00 là nước có tỉ suất sinh thô thấp - Từ 160/00 - 240/00 là nước có tỉ suất sinh thô đạt mức trung bình - Từ 250/00 - 290/00 là nước có tỉ suất sinh thô tương đối cao - Từ 300/00 - 390/00 là nước có tỉ suất sinh thô cao - Từ 400/00 trở lên là nước có tỉ suất sinh thô rất cao 0/ 00 45 42 40 36 36 35 31 31 30 27 26 23 23 24 25 21 20 17 15 15 12 11 10 5 0 1950 - 1955 1975 - 1980 1985 - 1990 1995 - 2000 2004 - 2005 Năm Toàn thế giới Các nước phát triển Các nước đang phát triển Hình 1.1: Tỉ suất sinh thô dân số Thế giới thời kì 1950 - 2005 Từ 1950 đến 2005, CBR của các nước đang phát triển có xu hướng giảm mạnh từ 420/00 xuống 240/00 (giảm 180/00); nhóm nước phát triển cũng giảm từ 230/00 xuống 110/00 (giảm 120/00) và theo đó CBR của toàn thế giới cũng giảm nhanh từ 36o/00 xuống còn 21o/00 (giảm 15o/00).Vậy, các nước đang phát triển có CBR giảm nhanh nhưng vẫn ở mức cao so với mức trung bình của toàn thế giới. + Tỉ suất sinh chung hay tỉ suất sinh sản (General Fertility Rate also called the fertility rate – GFR) là số trẻ em sinh ra còn sống tính trên 1000 phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ (15 tuổi đến 49 tuổi) trong một năm nhất định. GFR = P w15 − 49 Trong đó: B: số trẻ em sinh ra trong năm P w15-49: số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi) Cần lưu ý rằng hiện nay có 2 quan niệm về độ tuổi sinh đẻ của phụ nữ - Từ 15 – 49 (đa số mọi người coi đây là độ tuổi sinh đẻ) - Từ 15 – 44 (được sử dụng ở châu Âu và các nước có tỉ suất sinh thấp).
Tỉ suất sinh chung phản ánh mức sinh chính xác hơn tỉ suất sinh thô. Giữa hai thước đo này có mối liên hệ với nhau: CBR = GFR k với k là hệ số thể hiện số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ so với tổng số dân, dao động từ 20 – 30%. Về cơ bản tỉ suất sinh chung phụ thuộc vào kết cấu tuổi của phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi (hoặc 44 tuổi). Mức sinh không đáng kể ở lứa tuổi 15 nhưng đạt mức cao nhất từ 20 – 30 tuổi và giảm dần cho đến tuổi 49.
+ Tổng tỉ suất sinh (Total Fertility Rate) là số con trung bình sinh ra còn sống của một phụ nữ (hay một nhóm phụ nữ) trong suốt đời mình. i = 49 TFR = ASFRx i = 15 1000 Trong đó: ASFR: tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi (Age Specific Fertility Rate). ASFR = B fx P wx Bfx: số trẻ em sinh ra trong năm bởi số phụ nữ ở độ tuổi x Pwx: số phụ nữ trong độ tuổi x Có nhiều yếu tố tác động đến tỉ suất sinh làm cho nó thay đổi theo thời gian và không gian, bao gồm các yếu tố tự nhiên – sinh học, phong tục tập quán, tâm lí xã hội, trình độ phát triển KT - XH và các chính sách phát triển dân số của từng quốc gia… - Tỉ suất tử là chỉ số thống kê dân số đo mức tử vong của dân cư. Tỉ suất tử vong cũng thay đổi theo không gian, thời gian, đời sống vật chất tinh thần, tai nạn …Nhìn chung, những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tỉ suất tử bao gồm các yếu tố tự nhiên sinh học, các điều kiện KT - XH và thiên tai.
+ Tỉ suất tử thô (Crude Death Rate) là tương quan giữa số người chết trong năm so với dân số trung bình cùng thời điểm. Tỉ suất tử thô được tính bằng đơn vị phần nghìn (0/00). D CDR = P D: Số người chết trong năm của địa phương. P: Dân số trung bình trong năm của địa phương.
0/ 00 28 25 17 15 15 11 12 9 9 9 10 9 9 10 8 Năm 1950 - 1955 1975 - 1980 1985 - 1990 1995 - 2000 2004 - 2005 Toàn thế giới Các nước phát triển Các nước đang phát triển Hình 1.2: Tỉ suất tử thô dân số Thế giới thời kì 1950 – 2005 Theo tổ chức WHO, chỉ số CDR của các nước được quy ước: - Dưới 110/00: tỉ lệ tử vong thấp - Từ 110/00 – 140/00: tỉ lệ tử vong trung bình - Từ 150/00 – 250/00: tỉ lệ tử vong cao - Trên 250/00: tỉ lệ tử vong rất cao Tỉ suất tử thô trên thế giới nói chung và ở các nhóm nước nói riêng đều có xu hướng giảm do chất lượng cuộc sống và các điều kiện KT – XH, giáo dục, y tế ngày càng được nâng cao. Từ 1950 – 2005, CDR của thế giới giảm 160/00 (từ 250/00 xuống 9o/00), nước phát triển giảm 50/00 (từ 150/00 xuống 100/00) và các nước đang phát triển giảm với tốc độ nhanh hơn 200/00 (từ 280/00 xuống còn 80/00). Ở các nước phát triển, CDR giảm nhanh từ 150/00 – 90/00 (giai đoạn 1950 – 1955 và 1975 - 1980) rồi chững lại ở 90/00 sau đó có chiều hướng nhẹ và ổn định ở mức 100/00. Nguyên nhân chính là do ở các nước phát triển có tỉ lệ người già cao.
Ở các nước đang phát triển, nhờ những tiến bộ của y tế, KHKT và kết cấu dân số trẻ nên mức tử vong cũng giảm nhanh trong giai đoạn 1950 – 1955 và 1975 – 1980 (giảm 110/00). Từ 1980 đến nay, mức tử vong giảm chậm lại và thấp hơn so với mức chung các nước phát triển và mức trung bình của thế giới. Ngoài tỉ suất tử thô, ta còn một số tiêu chí khác như: + Tỉ lệ tử vong trẻ (Infant Mortality Rate) là tỉ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi trong năm tính trên 1000 đứa trẻ sinh ra trong năm (đơn vị tính: 0/00) IMR = D 0 B0 Trong đó: D0: Số trẻ em tử vong dưới 1 tuổi trong năm B0: Số trẻ em sinh ra trong năm Tỉ lệ này phản ánh trình độ nuôi dưỡng và tình hình sức khỏe chung của trẻ em ở một lãnh thổ.Trên thế giới hiện nay, tỉ lệ tử vong của trẻ em ngày càng giảm dần. Vậy, gia tăng tự nhiên (Natural Increase - NI) là hiệu số giữa số sinh và số tử trong một thời gian nhất định NI = B – D Trong đó: B: Số sinh D: Số tử vong trong cùng thời kì Tỉ suất gia tăng tự nhiên (Rate of Natural Increase - RNI) là tỉ số giữa gia tăng tự nhiên và dân số trung bình trong cùng thời kì B-D RNI = k P Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên còn được tính bằng hiệu số giữa tỉ suất sinh thô và tỉ suất tử thô.
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên được tính bằng đơn vị phần trăm (%). RNI = CBR - CDR Theo quy ước, tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên được chia thành 4 nhóm - ≤ 0%: dân số không tăng hoặc giảm - 0% - 0,9%: dân số gia tăng chậm - 1,0% - 1,9%: dân số gia tăng trung bình - Từ 2% trở lên: dân số gia tăng cao và rất cao Hình1.3: Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên thế giới tính trung bình năm, thời kì 2000 – 2005. Tình hình gia tăng dân số có sự khác biệt rất lớn giữa các nhóm nước và các khu vực. Tốc độ gia tăng nhanh nhất vẫn thuộc về châu Phi, trừ khu vực Bắc Phi và Nam Phi – là những nơi có nền kinh tế khá phát triển, phần còn lại của châu Phi đều có mức gia tăng từ 2% trở lên, có nơi lên đến 3%; tiếp đó là khu vực Mĩ la tinh, Tây Nam Á và Đông Nam Á.
Các nước phát triển khu vực châu Âu, Bắc Mĩ … luôn có tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên ở mức thấp (dưới 10%), thậm chí có nhiều nước dân số không tăng như Liên Bang Nga và khu vực Tây, Nam và Đông Âu (Đức, Italia, Tây Ban Nha, Ba Lan …) Vấn đề gia tăng dân số đã và đang đặt các nước trên thế giới vào những thách thức khác nhau, đó là sự bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển và sự già hóa dân số ở các nước phát triển.1 Gia tăng dân số cơ học Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu như gia tăng tự nhiên là động lực phát triển dân số thì gia tăng cơ học tuy không có ảnh hưởng lớn đến tổng số dân thế giới nói chung nhưng đối với từng khu vực, từng quốc gia thì nó lại có ý nghĩa quan trọng. Trong quá trình sinh tồn, vì nhiều lí do và hoàn cảnh khác nhau con người có thể thay đổi địa bàn cư trú, từ đó làm xuất hiện khái niệm chuyển cư. Sự chuyển cư có liên quan chặt chẽ đến điều kiện sống của con người. Chuyển cư làm thay đổi số lượng và cấu trúc dân số và kéo theo các hiện tượng KT - XH khác.