CHƯƠNG 1. ĐÔ THỊ HÓA VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THUẬN AN TRƯỚC NĂM 1999 1. Lý luận chung về đô thị và đô thị hóa 1. Đô thị Trong lịch sử phát triển của nhân loại, đô thị là hình thái tổ chức xã hội xuất hiện khá sớm, gắn với sự hình thành sinh hoạt mới, khác biệt với nếp sinh hoạt đồng quê.
Đặc trưng ban đầu của đô thị là sự tập trung dân cư trong khu vực sống nhất định. Tuy nhiên, đô thị chỉ thực sự được định hình sau một quá trình tổng hợp lâu dài những điều kiện kinh tế - xã hội được đặc trưng hóa làm cho cộng đồng đô thị khác với những cộng đồng xung quanh nó. Chất “đô thị” trở nên rõ ràng khi nền kinh tế của khu vực này chuyển dần sang những hình thức “phi nông nghiệp”. Đô thị thường xuất hiện sau một quá trình chuyển động tiền đô thị với những điều kiện nhất định như sự định cư và gia tăng dân số, sự xuất hiện kỹ thuật tiến bộ, nông nghiệp phát triển đáng kể.
Đây là quá trình lâu dài, phức tạp và tịnh tiến. Theo thời gian, trạng thái định cư biến đổi về chất: từ cộng đồng phân tán cô lập, kinh tế tự cung tự cấp ở địa phương, trở thành một hình thái cộng cư mang sắc thái khác hẳn, là nơi tập trung tối đa cho sức mạnh và văn hóa của một cộng đồng. Ở Trung Quốc, từ “đô” được sử dụng trong thời kỳ cổ đại Trung Quốc như là trung tâm của một quốc gia. Trong Sử ký, phần “Hóa thực liệt truyện”, Tư Mã Thiên bắt đầu gọi các thành phố trung tâm kinh tế khu vực là “đô hội”.
Trong tiếng Nhật, đô thị và thành thị đều có nghĩa như nhau, đô thị lớn cũng có nghĩa là thành phố lớn. Tại Việt Nam, các đô thị cổ Việt Nam được hình thành từ hai yếu tố là “đô” hoặc “thành” và “thị”. “Đô” chính là nơi làm việc của bộ máy quan lại triều đình phong kiến ở trung ương và địa phương, cũng là nơi ở của vua quan, gia đình và dòng tộc…“Thành” là những yếu tố bảo vệ cho “đô”. Đó là các thành quách và đơn vị quân đội thường trực có nhiệm vụ canh gác và bảo vệ “đô”.
“Thị” dùng để chỉ thị trường buôn bán hàng hóa. Có “thành” và “đô” tất yếu phải có trao đổi buôn bán và nơi tập trung buôn bán chính là các chợ. Việc xuất hiện của chợ sẽ kéo theo sự tụ tập dân cư và cơ sở kinh tế khác, nhất là tiểu thủ công nghiệp. 21 Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa đô thị là “nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thị trấn” (Trung tâm Từ điển học, 2002, tr.
Theo các tác giả của công trình Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, đô thị là “điểm dân cư tập trung với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, huyện” (Nguyễn Thế Bá, 1999, tr. Khái niệm này có nội hàm tương đối trùng khớp với những thuộc tính, tiêu chí dùng để xác định đô thị tại Việt Nam hiện nay. Từ năm 1990, Bộ Xây dựng đã đưa ra khái niệm làm căn cứ xác định đô thị của nước ta, theo đó đô thị là “điểm tập trung dân cư với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc huyện” (Ban tổ chức Cán bộ Chính phủ - Bộ Xây Dựng, 1990, tr. Tiếp nối khái niệm trên, luật Quy hoạch Đô thị, được ban hành ngày 17/6/2009 tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XII, quy định: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn” (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, 2009, tr.
Từ hai định nghĩa trên về đô thị, ta có thể thấy được đô thị được mang các đặc điểm về dân số như tập trung đông dân cư, mật độ dân số cao, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp là chủ yếu, là trung tâm kinh tế - văn hóa… Về phân loại đô thị, từ năm 1990, đô thị Việt Nam được phân thành 05 cấp từ loại I đến loại V phù hợp mới quy mô và chức năng để quản lý (Hội đồng Bộ trưởng, 1990, tr. Đến năm 2001, cùng sự phát triển nhanh và đa dạng của hệ thống đô thị Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2001/NĐ-CP điều chỉnh việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị phù hợp với tình hình thực tế, 22 trong đó thay đổi một số tiêu chí phân loại đô thị, đồng thời phân cấp lại hệ thống đô thị Việt Nam thành 6 cấp (thêm cấp “Đô thị đặc biệt” gồm thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh). Năm 2009, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 (Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2001) về việc phân loại đô thị, quy định việc đánh giá đô thị phải căn cứ vào 6 tiêu chí, bao gồm chức năng đô thị, quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, yêu cầu về công trình hạ tầng đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị. Với cách phân loại này, hệ thống đô thị Việt Nam vẫn được chia thành 6 cấp với các tiêu chuẩn phân loại cụ thể.
Đô thị loại đặc biệt: Là đô thị rất lớn có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; dân số từ 5 triệu người trở lên với mật độ dân số trung bình 15.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động đạt 90% trở lên. Đô thị loại I: Là đô thị lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước. Đô thị loại I có hai cấp: Đô thị trực thuộc Trung ương: Dân số từ 1 triệu người trở lên với mật độ dân số trung bình 12.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động đạt 85% trở lên. Đô thị trực thuộc Tỉnh: Dân số từ 500.000 người trở lên với mật độ dân số trung bình 10.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động đạt 85% trở lên.
Đô thị loại II: Là đô thị khá lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh. Đô thị loại II có hai cấp: Đô thị trực thuộc Trung ương: Dân số 800.000 người trở lên với mật độ dân số trung bình 10.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động đạt 80% trở lên. 23 Đô thị trực thuộc Tỉnh: Dân số từ 300.000 người trở lên với mật độ dân số trung bình 8.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động đạt 80% trở lên. Đô thị loại III: Là đô thị trung bình, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh; dân số từ 150.000 người trở lên với mật độ dân số trung bình 6.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động đạt 75% trở lên.
Đô thị loại IV: Là đô thị khá nhỏ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh; dân số từ 50.000 người trở lên với mật độ dân số trung bình 4.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động đạt 70% trở lên. Đô thị loại V: Là đô thị nhỏ, vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã; dân số từ 4.000 người trở lên với mật độ dân số trung bình 2.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động đạt 65% trở lên. Đô thị hóa Đô thị hóa hiểu một cách đơn giản nhất là việc biến đổi một khu vực dân cư trở thành đô thị hoặc mở rộng quy mô đô thị có sẵn. Trong suốt chiều dài của lịch sử loài người, đô thị hóa là quá trình gắn với sự ra đời và mở rộng không ngừng của các đô thị thời cổ đại, các thành thị thời trung đại và cận đại cho đến các thành phố hiện đại.
Đô thị hóa là một quá trình diễn ra phổ biến tại các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Về bản chất, đô thị hóa là hiện tượng biến đổi hình thái xã hội chi phối sâu sắc đến cội rễ của cấu trúc xã hội. Diễn trình đô thị hóa là một quá trình thường bao gồm các bước: 1. Những đô thị đầu tiên xuất hiện và phát triển trên vùng đất mà trước đây là nông thôn; 2.
Dân nông thôn bắt đầu di dân vào đô thị; 3. Các cộng đồng đô thị liên tục lan rộng và tiếp nhận không ngừng dân cư nơi khác; 4. Kiểu mẫu hành vi của dân nhập cư được thay đổi để thích ứng với tính chất của dân cư đô thị; 5. Đô thị càng phát triển, cấu trúc và hình dáng của nó càng 24 trở nên phức tạp, đa dạng hơn; 6.
Đô thị hóa thay đổi hoàn toàn tính chất của xã hội nơi mà nó xuất hiện. Bất cứ nơi nào mà hiện tượng đô thị hóa xảy ra thì nó sẽ làm thay đổi rất cơ bản cấu trúc của xã hội ấy (Tôn Nữ Quỳnh Trân – Nguyễn Văn Hiệp, 2015, tr. Đô thị hóa thường bắt nguồn từ phát triển nền kinh tế phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại, dịch vụ,…) dần dần thay thế cho nền kinh tế nông nghiệp. Tương tự, đô thị hóa ở Việt Nam là quá trình đô thị hóa nông thôn thành thành thị, biến đổi các làng, xã nông nghiệp thành các quận, phường của đô thị.