Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan đối tượng nghiên cứu 1. Đô thị và đô thị hóa 1. Khái niệm, chức năng và vai trò của đô thị a.
Khái niệm đô thị Theo Luật Quy hoạch đô thị Việt Nam (2009) đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính tri, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành và ngoại thành của thành phó, nội thị và ngoại thị của thị xã hoặc thị tran (Quốc hội, 2009). Theo Nghị định số 42 năm 2009 của Chính phủ về phân loại đô thị theo Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), một đơn vi được gọi là đô thi khi có các tiêu chuẩn cơ bản bao gồm: Thứ nhất, là trung tâm tong hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước hoặc của một vùng lãnh thổ nhất định. Thứ hai, quy mô dân số toàn đô thị tối thiêu phải đạt 4000 người trở lên. Thứ ba, mật độ dân số phải phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị tran, tối thiêu là 2000 người/kwử.
Thứ tư, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung phái dat tối thiêu 65% so với tổng số lao động. Thứ năm, hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật phải đạt các yêu cầu: Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị. Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng lưới hạ tầng, đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đô thị. Thứ sáu, việc xây dựng và phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị đã được duyệt, có các đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của cư dân đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên (Quốc hội, 2009).
Theo quy định của Chính phủ thì một khu vực muốn trở thành đô thị thì phải đáp ứng được 6 tiêu chuẩn trên. Tuy nhiên, trong thực tế tại Việt Nam do nhiều vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau trong đó đặc biệt là các vùng ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo đang gặp rất nhiều khó khăn nên Chính phủ đã có quy định riêng đối với các đô thị ở những vùng này. Cụ thể, những đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải dao thì quy mô dân số và mật độ dân số có thé thấp hơn nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đảm bảo đạt tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương. Như vậy, có thé thấy khái niệm đô thị có thể hiểu tổng quát như sau: Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện.
Khái niệm về đô thị hóa Đô thị hóa là một xu thé tat yếu, là một quá trình phát triển của xã hội mang tính chất toàn cầu và diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Khái niệm đô thị hóa được hiệu bằng nhiều cách khác nhau. Theo Đàm Trung Phường (2005) đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế - xã hội - văn hóa - không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyên dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyên đôi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự. Từ góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế, đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ đô thị.
Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiéu là quá trình tô chức lại môi trường cư trú của con nBười. Đô thị hóa không chi thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tổ vật chất, ma còn làm chuyền hóa những khuôn mau của đời sống kinh tế - xã hội, phố biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn và toàn bộ xã hội.(Đàm Trung Phường, 2005) Như vậy, đô thị hóa được thé hiện trong rất nhiều khái niệm khác nhau. Tuy nhiên dù ở góc độ nghiên cứu nào, các khái niệm này đều đề cập đến sự phát triển của dân số đô thị cũng như thể hiện vai trò của đô thị hóa đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc điểm và xu hướng đô thị hóa + Đặc điểm đô thị hóa Đô thị hóa được nhìn nhận dưới nhiêu quan điêm khác nhau, nhưng dù đứng trên quan điểm nào thì đô thị hóa đều có những đặc điểm chính như sau: Thứ nhất, đô thị hóa là người bạn đồng hành của công nghiệp hóa.
Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra song song và làm tiền đề cho nhau, không tách rời nhau. Ở nơi nào có đô thị hóa thì ở đó có quá trình công nghiệp hóa và ngược lại. Quá trình đô thị hóa làm gia tăng tỷ trọng các ngành kinh tế phi nông nghiệp, trong đó có ngành công nghiệp nên kéo theo quá trình công nghiệp hóa. Ngược lại, quá trình công nghiệp hóa dẫn đến tỷ trọng ngành công nghiệp tăng, việc xây dựng các khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp khác sẽ dẫn đến việc phát triển cơ sở hạ tầng, các hoạt động thương mại, dịch vụ, tập trung dân cư.
kéo theo quá trình đô thị hóa (Đàm Trung Phường, 2005) Thứ hai, đô thị hóa đưa đến nhiều thành tựu quan trọng nhưng cũng kéo theo nhiều mặt tiêu cực trong quá trình phát triển của các đô thị nói riêng và cả xã hội nói chung. Quá trình đô thi hóa làm da dạng các thành phan kinh tế, thúc day sản xuất phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế thị trường, nền kinh tế và các hoạt động sản xuất trở nên năng động hơn. Đô thị hóa làm tăng ty lệ lao động phi nông nghiệp, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, đồng thời các phương tiện máy móc dần thay thế sức lao động của con người. Đô thị hóa dẫn đến sự ra đời của các đô thị, làm cho các khu vực thay đổi hình thức tô chức từ nông thôn thành các don vị mang tính chất đô thị, qua đó thay đổi hình thức quản lý, cơ chế chính sách và các hoạt động khác.
Đồng thời, đô thị hóa góp phần chuyền dịch các hình thái kiến trúc, xây dựng từ dạng nông thôn sang dạng thành thị nên tạo ra nhiều kiểu kiến trúc mới, đẹp và hiện đại hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì nếu thiếu kiểm soát thì quá trình đô thị hóa cũng sẽ tạo nên những biến đổi theo hướng tiêu cực. Cụ thé, qua trình đô thị hóa thiếu kiểm soát sẽ dẫn đến gia tăng các tình trạng như: thất nghiệp, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, quy hoạch thiếu đồng bộ. Những tồn tại này làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và nền văn minh của đô thị và cả xã hội.
(Đàm Trung Phường, 2005) + Xu hướng đô thị hóa Qua quá trình nghiên cứu diễn biến của quá trình đô thị hóa trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã kết luận, quá trình đô thị hóa diễn ra theo hai xu hướng chính là đô thị hóa tập trung và đô thị hóa phân tán. Trong đó: Đô thị hóa tập trung là quá trình phát triển tập trung toàn bộ các ngành công nghiệp và dịch vụ công cộng vào các thành phố lớn và các vùng xung quanh, làm hình thành các đô thị không 16, tạo ra sự đối lập giữa thành thị với nông thôn, đồng thời gây ra sự mat cân bằng môi trường sinh thái. Đô thị hóa tập trung góp phan làm gia tăng khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế xã hội giữa đô thị và nông thôn ngày một xa hơn, tạo nên nhiều áp lực và gánh nặng cho chính quyền đô thị trong việc giải quyết việc làm, nhà ở và các nhu cầu khác cho người dân nhập cư vào đô thị, không hoặc ít khai thác hết tiềm năng của địa bàn nông thôn. Đô thị hóa tập trung phù hợp với các nước phát triển, nơi có đầy đủ các điều kiện để hạn chế những mặt ton tại và vận dụng được những ưu điểm của xu hướng nay mang lại.
Khác với đô thị hóa tập trung, đô thị hóa phân tán là quá trình phát triển mạng lưới điểm dân cư đô thị có tầng bậc, phát triển cân đối công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ công cộng, đảm bảo cân bằng sinh thái, tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư ở đô thị và nông thôn. Đô thị hóa phân tán là xu hướng chủ đạo nhất trong quá trình đô thị hóa mà đa số các nước đang phát triển lựa chọn vì thực chất của quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa, xu hướng này giúp phát triển công nghiệp và dịch vụ công cộng đồng đều giữa các vùng, góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương, hạn chế luồng di cư vào đô thi của các vùng lân cận (Michel Bassand, 2001) c. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đời sống kinh tế xã hội Quá trình đô thị hóa tạo ra rất nhiều ảnh hưởng tích cực đến đời sống kinh tế xã hội.