chương 1 sẽ trình bay một số khái niệm, thuật ngữ liên quan cũng như thảo luận các lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa đô thị và nông thôn bên cạnh việc tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan để xác định các khoảng trống nghiên cứu chưa được khám phá. Từ đó, phát triển mô hình nghiên cứu cụ thé dựa trên các giá trị kế thừa từ các lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm. Chương 2 sẽ mô tả cụ thê về các phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong luận án bao gồm các cơ sở nên tảng về cách thức ước lượng, kiểm định và lựa chọn mô hình phù hợp. Bên cạnh đó, cách thức thu thập, xử lý dữ liệu cũng được mô tả chỉ tiết trong chương này.
Chương 3 sẽ tiến hành phân tích sự thay đổi về cơ cấu kinh tế của các địa phương tại Việt Nam theo hai khía cạnh không gian và thời gian. Mối tương quan trong sự thay đổi này giữa các địa phương với nhau cũng sẽ được xem xét và đánh giá trong chương này. Chương 4 sẽ phân tích các đặc điểm cụ thể của các đô thị lớn và sự thay đổi của chúng theo thời gian. Từ đó, tiến hành phân tích những tác động từ những đặc điểm này đối với quá trình chuyên dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương lân cận trong trường hợp xem xét mối quan hệ giữa các địa phương với nhau.
Kết quả phân tích trong chương này sẽ là nền tang dé có thé chỉ ra các khám phá mới cũng như gợi ý các chính sách phù hợp. Chương 5 sẽ đề xuất các hàm ý chính sách cụ thể cho việc thúc dây quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương dựa trên kết quả nghiên cứu đã đưa ra ở ra ở các chương trước đó. 11 CHUONG 1: CO SO LY THUYET VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU Thông qua phương pháp phân tích định tính với cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp và lý thuyết cơ sở, chương này sẽ tiễn hành tổng quan các nghiên cứu hiện có trên thé giới và Việt Nam liên quan đến dé tài dé tìm ra các khoảng trồng chưa được khám phá từ đó thiết lập các giả thuyết liên quan mục tiêu nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên các lý thuyết nên tảng. Một số định nghĩa 1.1, D6 thị (Urban) Trong nghiên cứu phan tích về không gian địa lý, đô thi là một trong những khái niệm trọng tâm được các học giả, nhà hoạch định chính sách, chính quyền quốc gia và các tô chức quốc tế sử dụng phố biến.
Mặc dù đã được đề cập đến rất nhiều trong các tài liệu nhưng việc định nghĩa thống nhất khái niệm này ở cấp độ quốc tế cho đến nay vẫn đang là một thử thách (Dijkstra & Poelman, 2014). Một trăm hai mươi mốt trong số 233 quốc gia hoặc khu vực được xem xét sử dụng tiêu chí hành chính dé xác định đô thị. Trong số này, 59 quốc gia sử dụng tiêu chí hành chính làm tiêu chí duy nhất. Có 108 trường hợp sử dụng quy mô dân số hoặc mật độ dân số để mô tả các khu vực đô thị và trong số đó, có 37 trường hợp dùng các đặc điểm nhân khẩu học này làm tiêu chí duy nhất.
Đặc điểm kinh tế là một trong những tiêu chí được sử dụng dé xác định các khu vực đô thị ở 38 quốc gia và khu vực. Các tiêu chí liên quan đến đặc điểm chức năng của đô thị, chăng hạn như sự tồn tại của đường phố lát đá, hệ thống cung cấp nước, hệ thống thoát nước hoặc điện chiếu sáng, là một trong các tiêu chí xác định đô thị ở 69 quốc gia, nhưng trong số đó chỉ có tám trường hợp xem đây là tiêu chí phân loại duy nhất (UN DESA, 2018). Sự đa dạng trong tiêu chí xác định không phải là điều khó khăn duy nhất trong việc đưa ra một định nghĩa chung về đô thị bởi vì trong từng tiêu chí cụ thể còn có sự chênh lệch về gia tri giữa các quốc gia và khu vực. Vi dụ, Ireland coi khu vực đô thị là khu định cu của con người với hơn 1500 cư dân, trong khi ngưỡng này là 2000 cư dân ở 12 Israel và 5000 cư dân ở Ghana (ILO, 2018).
Ở Việt Nam, theo Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 25 tháng 5 năm 2016 về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính, các đô thị được coi là các thành phố trực thuộc Trung Ương và được xác định là đơn vị hành chính đô thị dựa trên các tiêu chí sau: Quy mô dân số từ 1.000 người trở lên, diện tích tự nhiên từ 1.500 km2 trở lên, đơn vi hành chính trực thuộc, thu nhập bình quân đầu người/năm ít nhất bằng 1.75 lần so với cả nước, mức tăng trưởng kinh tế trung bình 3 năm gần nhất phải không thấp hơn bình quân của cả nước, tỷ lệ hộ nghèo trung bình 3 năm gần nhất phải đạt bình quân của cả nước, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế phải ít nhất 90%. Do đó, khi xét phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh, Việt Nam có 5 thành phố trực thuộc Trung Ương, tương đương với 5 đơn vị hành chính đô thị và các tỉnh còn lại được coi là đơn vị hành chính nông thôn mặc dù các tỉnh này có thể bao gồm nhiều thành phố trực thuộc. Trên thực tế các tổ chức quốc tế như UN DESA (2018), World Bank (2009), FAO (2017), OECD (2013), ILO (2018) đều có những cách phân loại không giống nhau do các tổ chức này quan tâm đến các van dé, khía cạnh riêng vì thế tiêu chí mà họ đưa ra để so sánh cũng khác biệt. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu cũng có cách tiếp cận khác nhau trong việc định nghĩa đô thị.
Gebre & Gebremedhin (2019) cho răng đặc trưng giúp phân biệt đô thị với khu vực khác chính là sự đông đúc về mặt mật độ dân cư cũng và sự đầy đủ các dịch vụ xã hội. Theo đó, đô thị là nơi có nhiều người sống trên một diện tích nhỏ với khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội tốt hơn. Howard (2013) thì cho cho rằng đô thị có lợi thế hơn khu vực khác về cơ hội xã hội, cơ hội việc làm với mức lương cao hơn, và nhiều địa điểm vui chơi hơn. Tuy nhiên, họ gặp bất lợi về giá thuê và các chi phí cao hơn, không khí 6 nhiễm, nhiều khu 6 chuột hơn, thiên nhiên bị cô lập.
Có thể thấy rằng, mặc dù không đi đến thống nhất chung mang tính chất định lượng cụ thể về việc định nghĩa khái niệm đô thị cho tất cả các quốc gia trên thế giới nhưng có hai đặc điểm chung cơ bản dé xác định đô thị đó là quy mô dân số và mức độ phát triển kinh tế nói chung, và dựa trên các quy định cụ thể của từng quốc gia, các khu vực đô thị sẽ được xác định. Về bản chất, mỗi khi đề cập đến một 13 trong hai khái niệm “đô thị” hoặc “nông thôn” thì cũng sẽ đề cập đến khái niệm còn lại như một sự đối lập. Do đó, hai khái niệm này tuy tương phản nhưng tồn tại song song và hỗ trợ lẫn nhau. Có thé hiểu một cách đơn giản, khi xem xét một khu vực địa lý bao gồm nhiều địa phương với mức độ phát triển khác nhau, thì các địa phương có dân số và kinh tế phát triển hơn sẽ được coi là đô thị.
Ngược lại, những địa phương có quy mô dân số và trình độ phát triển kinh tế thấp hơn sẽ được coi là khu vực nông thôn. Đô thị lớn (Metropolis) Đô thị lớn là một thuật ngữ phd biến được sử dụng rộng rãi dé mô tả về quy mô của một khu vực đô thị. Đôi khi nó được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như “metropolis” hay “large urban” hoặc thậm chí là “megacity”. Tương tự như đối với khái niệm đô thị, việc định nghĩa thế nào là “đô thị lớn” vẫn chưa có sự thống nhất chung và tùy thuộc vao các tiêu chí pháp lý, hành chính, chính trị, kinh tế hoặc văn hóa ở các quốc gia và khu vực tương ứng (UN-Habitat, 2020).
Trong khi đó, theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 25 tháng 5 năm 2016 về phân loại đô thị và Luật t6 chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13, trong số các đơn vị hành chính đô thị, chỉ có 2 thành phố được xếp loại đặc biệt là Thành phó Hồ Chí Minh và Hà Nội. Hai đô thị này có quy mô dan số và kinh tế có sự vượt trội cũng như những đặc điểm đặc biệt so với các đô thị còn lại. Cụ thé, vị trí, chức năng, vai trò của các đô thị này có thé là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quéc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mỗi giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 3.000 người trở lên.
Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thi đạt từ 12.000 người/km2 trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên. Trong khi đó, các quốc gia khác lại có những tiêu chí khác nhau cho sự phân loại này. Do đó, việc xác định một đô thị lớn chỉ mang tính chất tương đối giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới.
Tuy nhiên, về bản chất đô thị lớn có thé 14 được xem là đô thị có quy mô vượt trội so với mặt bằng chung của các đô thị trong cùng khu vực được xét (McMillen & Smith, 2003). Mặc dù luận án nay không đồng nhất khái niệm đô thị lớn với đô thị đặc biệt, nhưng với mục tiêu là phân tích những tác động của đô thị lớn lên cơ cấu kinh tế của các địa phương ở Việt Nam, luận án coi hai đô thị lớn nhất của Việt Nam là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội như những đô thị lớn. Địa phương lân cận Luận án này tiến hành phân tích tác động của đô thị lớn lên cơ cau kinh tế của các địa phương lân cận trong trường hợp xem xét đến mối quan hệ tổng thé giữa các địa phương với nhau.