Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÙNG GÒ ĐỒI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LÀM 1. Lao động và sức lao động 1. Khái niệm về lao động Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động gắn liền với con người và xã hội loài người.
Từ xa xưa, con người đã biết làm lụng, tìm kiếm trong thế giới xung quanh những sản phẩm để phục vụ nhu cầu cho bản thân mình. Khi xã hội phát triển, những hoạt động lao động sản xuất nói chung ấy được phân chia thành những ngành nghề cụ thể khác nhau và người lao động được làm việc trong những lĩnh vực phù hợp với khả năng của mình. Mỗi người tham gia lao động sản xuất với một việc làm cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và đóng góp của cải cho xã hội. Lao động là một trong ba yếu tố tạo nên quá trình sản xuất và là yếu tố giữ vai trò quyết định.
Dù trong điều kiện khoa học kỹ thuật tiến bộ, quá trình sản xuất được tiến hành bằng máy móc và tự động hóa thì quá trình sản xuất vẫn phải được điều khiển bởi sức lao động của con người. Trong quá trình lao động, con người với sức mạnh tiềm năng của cơ thể mình, sử dụng những công cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiên, khai thác những vật chất trong tự nhiên và biến đổi những vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích với đời sống bản thân và xã hội. Ăng-ghen khẳng định rằng: “Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc và bất cứ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người”. [3, 61] Có thể hiểu “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành các sản phẩm phục vụ đời sống của con người”.
Khái niệm về sức lao động Sức lao động là năng lực lao động, là toàn bộ trí lực và sức lực của con người, được con người vận dụng để sản xuất vật phẩm, phục vụ đời sống của con người. Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhiều nhất trong quá trình lao động, nó phát động và đưa các tư liệu lao động vào hoạt động lao động để tạo ra sản phẩm. Nếu coi sản xuất là hệ thống gồm ba phần tạo thành (các nguồn lực, quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hóa) thì sức lao động là một trong các nguồn lực khởi đầu của một quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa. Nguồn lao động là tiềm năng đặc biệt của đất nước, không những là chủ thể của sản xuất mà còn là lực lượng sản xuất của xã hội, là yếu tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Mọi quá trình sản xuất đều gồm ba phần cơ bản: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động của con người. Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, đang có việc làm và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm. Theo quan điểm của Tổ chức lao động thế giới (ILO) cũng như tại Điều 6 và Điều 145 của Bộ Luật lao động nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định độ tuổi tối thiểu và tối đa của người lao động: Đối với nam từ 15 - 60 tuổi; đối với nữ 15 - 55 tuổi. Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc và độ tuổi này tùy thuộc vào điều kiện văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của từng quốc gia.
Phân loại lao động Từ thực tế sử dụng lao động và để tính toán được các chỉ tiêu cơ cấu lao động theo tính chất lao động, theo ngành sản xuất, theo trình độ đào tạo… phải căn cứ vào thời gian lao động đã sử dụng để quy ra số người lao động và năng suất lao động. Phân loại lao động thường được kết hợp một số tiêu thức sau: - Lao động trực tiếp: + Trong nông nghiệp: Trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ sản xuất nông nghiệp. + Trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. + Dịch vụ, du lịch.
6 - Lao động gián tiếp sản xuất: + Cán bộ chỉ đạo kỹ thuật. + Cán bộ quản lý hành chính. Phân loại như vậy cho thấy mối quan hệ giữa lao động trực tiếp sản xuất và lao động gián tiếp sản xuất, mối quan hệ giữa các ngành sản xuất trong từng địa phương, từng doanh nghiệp. Ngoài ra, tùy theo yêu cầu nghiên cứu có thể phân chia lao động theo giới tính, độ tuổi để thấy được khả năng và huy động sức lao động của mỗi thành viên trong gia đình vào sản xuất.
Khái niệm việc làm Việc làm trước hết là biểu hiện của hoạt động lao động ở mỗi người lao động. Nếu lao động là hoạt động của xã hội nói chung, phản ánh bản chất của con người nói chung thì việc làm là hoạt động lao động cụ thể của mỗi người lao động tham gia vào quá trình lao động xã hội chung đó. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ việc làm là gì? Ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, pháp luật… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế chưa có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật. Việc làm là một vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp. Đó là công việc của mỗi cá nhân nhưng lại gắn liền với xã hội. Có việc làm, không những người lao động có thu nhập nuôi sống bản thân mà còn tạo ra một lượng của cải cho xã hội.
Mác đã nói: “Với những điều kiện khác không thay đổi thì khối lượng và giá trị của sản phẩm tăng lên theo tỷ lệ thuận với số lượng lao động được sử dụng”. [2, 75] Trước đây, trong cơ chế quan liêu, bao cấp việc làm của người lao động thường do nhà nước giải quyết với chế độ “biên chế” suốt đời. Người lao động có việc làm được xã hội tôn trọng và thừa nhận là những người làm việc trong các cơ 7 quan hành chính sự nghiệp của nhà nước, các đơn vị kinh tế quốc doanh, với quan niệm Nhà nước bố trí việc làm cho người lao động. Chính vì vậy, xã hội không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hay việc làm không đầy đủ.
Quan điểm đó tạo ra tâm lý ỷ lại vào nhà nước ở người lao động khi họ cần việc làm. Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, quan niệm trên về việc làm đã thay đổi. Quan điểm mới về việc làm được thể hiện ở Luật Lao động của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2012: Điều 9, Chương 2 (việc làm) của Luật quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. [12] Từ quy định trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về việc làm: Việc làm là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức: Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật. Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý.
Khái niệm trên là khá bao quát nhưng cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản: Hạn chế thứ nhất: Hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Hạn chế thứ hai: Khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán… Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi đó là việc làm nhưng ở quốc gia khác bị cấm. 8 Ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam bị cấm nhưng ở Thái Lan, Mỹ đó lại được coi là một nghề thậm chí là rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu… Như vậy, một hoạt động được xem xét có phải việc làm hay không chủ yếu dựa trên tính hợp pháp của hoạt động đó. Từ khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và đem lại thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình.
Hai là, các hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm. Hai điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ cho một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Các hình thức việc làm Quan niệm trên về việc làm hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, người lao động có thể làm bất cứ việc gì, ở bất cứ đâu, miễn là không vi phạm pháp luật để mang lại thu nhập cho bản thân.
Quan niệm trên đã mở ra một hướng mới cho vấn đề giải quyết việc làm, mở ra một thị trường việc làm phong phú và đa dạng, thu hút nhiều lao động, thực hiện mục tiêu giải phóng triệt để sức lao động và tiềm năng toàn xã hội. Người có việc làm bao gồm: + Người chủ (có thể thuê). + Người làm việc cho lợi ích của chính mình, độc lập kinh doanh không thuê mướn lao động. + Người làm công ăn lương.
+ Người làm việc trong hộ gia đình nhưng không hưởng lương.