CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Công ước số: 95, Điều 1: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay là cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công việ đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”. Với định nghĩa trên đây các khái niệm “Tiền lương”, “Tiền công”, “thu nhập” đều có thể dung thay thế cho nhau.
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động trở thành hàng hoá đặc biệt. giá cả hàng hoá đó chính là tiền lương hay tiền công. Đó là khoản tiền mà ngưởi chủ sử dụng lao động phải trả cho người lao động sau quá trình làm việc. Có thể nói, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được thoả thuận thích đáng giữa người sử dụng lao động và người lao động, trên cơ sở tính toán hợp lý giá trị tư liệu tiêu dung được sử dụng để tạo ra và tái sản xuất sức lao động đó.
Theo Bộ luật lao động (2012): Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định. Vậy tiền lương là khoản thu nhập của người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất lượng công việc của người lao động, tuân theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị và pháp luật của nhà nước.Marx: Tiền lương là giá trị hay giá cả của sức lao động, những biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của sức lao động. Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhpậ mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một số lượng nhất định không căn cứ vào số giờ làm việc thực tế, thường được trả theo tháng hoặc nửa tháng. Như vậy, tiền lương là một phạm trù kinh tế, là kết quả của dự phân phối của cải trong xã hội. Và do tiền lương là giá cả của sức lao động, một hàng hoá đặc biết nên tiền lương liên quan đến một loạt các phạm trù. Thứ nhất, sức lao động là yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nên tiền lương là vốn đầu tư ứng trước quan trọng nhất, là giá cả sức lao động và là một phạm trù của sản xuất.
Thứ hai, sức lao động là hàng hoá, cũng như mọi hàng hoá khác, nên tiền lương là phạm trù của trao đổi, nó đòi hỏi phải ngang với gái cả các tư liệu sinh hoạt cần thết nhằm tái sản xuất sức lao động. Thứ ba, sức lao động là một yếu tố của quá trình sản xuất cần phải bù đắp sau khi đã hao phí, nên tiền lương cần phải được thực hiện thông qua quá grình phân phối lại thu nhập quốc dân, dựa trên hao phí lao động, hiệu quả lao động của người lao động. Do đó, tiền lương là một phạm trù phân phối. Tiền lương của người lao động được nghiên cứu trên hai góc độ là tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế (i) Tiền lương danh nghĩa: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo giá trị hiện hành của đồng tiền, như vậy tiền lương danh nghĩa có ích cho việc so sánh tiền lương của người lao động khác nhau tại một 11 thời điểm cho trước.
Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc trong quá trình lao động. (ii) Tiền lương thực tế: được hiểu là các loại hàng hoá tiêu dung và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền danh nghĩa. Nếu giá cả tăng lên thì tiền lương thực tế giảm đi. Kinh tế học vi mô cổ điển coi sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố là lao động và vốn.
Vốn thuộc quyền sở hữu của mộ bộ phận dân cư trong xã hội, còn một bộ phận dân cư khác do không có vốn chỉ có sức lao động, phải đi làm thuê cho những người có vốn và đổi lại họ nhận được một khoản tiền gọi là tiền lương. Bản thân tiền lương có liên quan đến vấn đề lý luận lợi ích, lý luận về sự phân phối và thu nhập của Nhà nước, của doanh nghiệp và người lao động. tiền lương hàm chứa nhiều mối quan hệ biện chứng, đó là các mối quan hệ cơ bản như giữa sản xuất và nâng cao đời sống, giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa thu nhập của các tầng lớp dân cư. Trong khu vực sản xuất kinh doanh, tiền lương là giá cả sức lao động, là yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh.
Trong kinh tế thị trường và hội nhập, tiền lương là một trong những chỉ báo quan trọng để xem xét một nền kinh tế được coi là kinh tế thị trường hay chưa. Nói tóm lại, bản chất của tiền lương trong cơ chế thị trường bao gồm 3 trụ cốt: - Tiền lương là giá cả sức lao động, hay biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. - Tiền lương phụ thuộc vào quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động, nhưng không được trả thấp hơn mức lương tối thiểu đủ sống do luật pháp quy định. - Tiền lương phụ thuộc vào quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động, nhưng không được trả thấp hơn mức lương tối thiểu đủ sống do luật pháp quy định.
12 - Tiền lương được xác định thông qua cơ chế thoả thuận giữa các bên trong quan hệ lao động. Bên cạnh tiền lương, người lao động còn có các khoản thu nhập khác như tiền thưởng, tiền phụ cấp các loại, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Trong nghiên cứu tiền lương, còn có khái niệm thu thập của người lao động. Khái niệm thu nhập rộng hơn khái niệm tiền lương, cơ cấu cảu nó bao gồm: tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp và các khoản thu nhập khác của người lao động do tham gia vào kết quả sản xuất kinh doanh hoặc các khoản thu nhập khác do họ tự đầu tư vốn tạo ra.
Về bản chất, các khoản thu nhập ngoài lương này là khoản tiền bổ sung vào tiền lương nhằm quán triệt hơn nguyên tắc phân phối thu nhập cảu người lao động và nhằm khuyến khích người lao động trong nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tiết kiệm nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất. Cùng với tiền lương, các khoản thu nhập khác ngoài lương góp phần thoả mãn nhu cầu vật chất cho người lao động và phân định rõ chất lượng công việc của người lao động đóng góp cho Công ty. Thu nhập ngoài lương của người lao động chia thành hai loại: loại thứ nhất: là thu nhập từ tiền thưởng, tiền lãi cổ phần đóng góp…, khoản tiền này người lao động trực tiếp nhận từ công ty. Loại thứ hai là các khoản tiền như tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp …, đây là các khoản thu nhập ngoài lương không mang tính trực tiếp và tức thì.
Các khoảng này người lao động không được nhận trực tiếp từ doanh nghiệp. Chính vì vậy, nó xũng được xem là thu nhập khác ngoài lương của người lao động. Ngay sau khi cuộc sống của người lao động được cải thiện rõ rệt, trình độ văn hoá chuyên môn được nâng cao, người lao động di làm không chỉ mong muốn có các yếu tố vật chất như: lương cơ bản,thưởng, trợ cấp, phúc lợi mà còn muốn được những cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, được giao thực hiện 13 những công việc có tính chất thách thức, điều kiện làm việc, môi trường làm việc thú vị,…. Theo Trần Kim Dung (2009): Hiện tại, ở một số nước công nghiệp phát triển đã quan niệm tiền lương ở nghĩa rộng hơn, bao hàm cả yếu tố vật chất lẫn các yếu tố tinh thân nhằm đem lại sự thoả mãn cho người lao động tại nơi làm việc.
Theo quan niệm mới này, trả lương, trả công cho người lao động có cơ Lương cơ bản Thù lao vật chất Phụ cấp Thưởng Cơ cấu hệ Phúc lợi thống trả công Cơ hội thăng tiến Công việc thú vị Thù lao phi vật chất Điều kiện làm việc Sơ đồ1.1: Cơ cấu hệ thống trả công trong các doanh nghiệp Nguồn: Trần Kim Dung, 2009 1. Vai trò và ý nghĩa của tiền lương Tiền lương là số lượng tiền mà người sử dụng lao động tra cho người lao động theo thoả thuận của hai bên trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Trong quá trình hoạt động, nhất là trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thì tiền lương có vai trò rất quan trọng bởi tiền lương chịu sự chi phối của rất nhiều các mối quan hệ và quy luật kinh tế. Đối với người lao động thì tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ và có ảnh hưởng trực tiếp tới mức sống 14 của họ nên họ luôn mong muốn được tăng lương.
Còn đối với người sử dụng lao động thì tiền lương cho người lao động lại là một khoản chi phí đối với doanh nghiệp. Để tối đa hoá lơi nhuận thì doanh nghiệp phải tối thiểu hoá chi phí. Do vậy các chính sách về tiền lương, thu nhập luôn là những chính sách trọng tâm của mọi quốc gia. a/ Đối với doanh nghiệp Tiền lương là một phần quan trọng của chi phí sản xuất; là công cụ để duy trì, giữ gìn và thu hút những người lao động giỏi.
Mục tiêu quan trọng nhất của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Để có thể tối đa hoá lợi nhuận thì họ phải tối thiểu hoá chi phí.