Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về các doanh nghiệp công ích. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp công ích trên địa bàn thành phố Hải Ph ng. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp công ích trên địa bàn thành phố Hải Ph ng. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÁC DOANH NGHIỆP C NG ÍCH 1.
Một số vấn đề về doanh nghiệp công ích 1. Khá n m do nh n h p Ngày nay, khi nhắc tới sự phát triển kinh tế của một quốc gia bất kỳ, chúng ta sẽ liên tưởng đến ngay hệ thống các doanh nghiệp (DN) hoạt động trong nền kinh tế đó bởi lẽ doanh nghiệp chính là một tế bào cơ bản của nền kinh tế. Cùng với hộ tiêu dùng, các doanh nghiệp chính là một trong hai lực lượng chủ thể cùng quyết định thị trường và trở thành sức cung và cầu trên các thị trường khác nhau. Có thể thấy rõ, bất cứ sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ nào mà chúng ta đang hàng ngày, hàng giờ tiêu dùng đều có nguồn gốc từ một DN nhất định; phần lớn của cải của xã hội được tạo ra từ hoạt động tích cực của các DN và phần lớn dân cư của một quốc gia đều đã và đang lao động và làm việc trong các DN thuộc mọi thành phần kinh tế.
Xuất phát từ vai tr đặc biệt quan trọng của chủ thể kinh tế này, nhiều chuyên gia kinh tế học cho rằng, hiệu quả hoạt động của các DN chính là tiêu chí để đánh giá một nền kinh tế có phát triển hay không. Nói một cách cụ thể rằng, một nền kinh tế phát triển phải là nền kinh tế trong đó các DN luôn luôn hoạt động và phát triển, ngược lại nếu các DN dậm chân tại chỗ, không mở rộng được sản xuất, thậm chí không bán được hàng hoá, luôn luôn thiếu vốn để kinh doanh,. thì đó chính là một bức tranh kinh tế trì trệ, đen tối và không có tương lai. Một nền kinh tế năng động luôn luôn có sự tham gia tích cực của nhiều thành viên, trong đó có những thành viên thực hiện các hoạt động kinh tế 7 nhưng không được coi là doanh nghiệp.
Vậy doanh nghiệp là gì? Một tổ chức cần thoả mãn những điều kiện gì để được coi là DN? Hiện nay, dựa trên những tiêu chí riêng biệt mà khái niệm về DN được trình bày khác nhau. Chẳng hạn, khoa học kinh tế vi mô định nghĩa: anh nghi à ột n v kinh d anh hàng h d ch v the nhu c u th t ờng và xã hội ể ạt ợi nhuận tối a và ạt hi u quả kinh tế xã hội ca nhất. Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ kinh tế học” [25] đưa ra định nghĩa: anh nghi à n v kinh d anh ợc thành ậ nh c ích chủ yếu à thực hi n c c h ạt ộng kinh d anh của những chủ sở hữu (Nhà n ớc tậ thể t nhân) về ột hay nhiều ngành. Theo Luật Doanh nghiệp 2005 [18]: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Có thể đưa ra một định nghĩa bao quát như sau: anh nghi à ột t chức kinh d anh ợc thành ậ the h uật và ợc h uật thừa nhận ể thực hi n c c h ạt ộng sản xuất cung ứng t a i những hàng h d ch v t ên th t ờng the nguyên tắc tối a h ợi ích của ối t ợng tiêu dùng, thông qua ó à tối a h ợi ích kinh tế của ng ời chủ sở hữu về tài sản của N ồng thời kết hợ ột c ch hợ ý c c c tiêu xã hội. Khá n m do nh n h p c n ch Tại Nghị định số 56 CP ngày 2 10 1996 của Chính phủ [11], doanh nghiệp công ích (DNCI) được quan niệm như sau: Doanh nghiệp nhà nước DNNN hoạt động công ích là DNNN độc lập hoặc DNNN là thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc ph ng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì 8 mục tiêu lợi nhuận. Đây là lần đầu tiên luật pháp Việt Nam thừa nhận loại hình DNNN hoạt động công ích làm cơ sở để xác định phạm vi và cơ chế quản lý các DNCI. Trước đây, trong cơ chế “thu đủ, chi đủ” không có sự khác nhau giữa doanh nghiệp kinh doanh và các DNCI chuyên sản xuất các hàng hóa, dịch vụ công cộng nhưng khi chuyển sang cơ chế thị trường, sau khi các DNNN chuyển sang nguyên tắc thương mại, trong một thời gian dài cả Nhà nước và các DNCI đều lúng túng về cơ chế quản lý.
Hiện nay, theo quan niệm mới tại Nghị định số 130 2013 NĐ-CP ngày 16/10 2013 của Chính phủ thì: SP, DVCI là sản phẩm dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc đảm bảo quốc ph ng, an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này, do đó được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch, tổ chức đấu thầu theo định giá hoặc phí do Nhà nước quy định. Đối với DNCI, trước đây do chưa xác định rõ tiêu chí DNNN hoạt động công ích và SP, DVCI đã dẫn đến tình trạng mở rộng quá nhiều danh mục có tới 30 nhóm sản phẩm dịch vụ thuộc SP, DVCI được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, làm cho số DNNN làm nhiệm vụ công ích phát triển tràn lan. Tính đến cuối năm 2012, tổng số doanh nghiệp tham gia vào các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ công ích là trên 40 nghìn doanh nghiệp, chiếm 12,2 tổng số doanh nghiệp trong bộ điều tra doanh nghiệp 2012. Hiệu quả mà các doanh nghiệp trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ công ích đưa lại khá thấp nhưng lại có số lượng lao động trung bình cao hơn so với toàn bộ nền kinh tế.
Các doanh nghiệp tư nhân chiếm tới 94,8 tổng số doanh nghiệp trong các lĩnh vực công ích, c n doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 2,85. Trong đó, số lượng DNNN hoạt động trong các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ công ích chiếm tới 37,75 9 trong tổng số 3.279 DNNN của toàn bộ điều tra doanh nghiệp. Khắc phục tình trạng trên, Nghị định 130 2013 NĐ-CP ngày 16 10 2013 của Chính phủ đã quy định rõ danh mục SP, DVCI. Danh mục này không cố định mà căn cứ vào tình hình thực tế, có thể điều chỉnh cho phù hợp.
Ngoài phụ lục kèm theo, Nghị định c n quy định rõ: “Trong từng thời kỳ, Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sửa đổi, bổ sung danh mục SP, DVCI”. Danh mục được chia làm ba loại theo thứ tự , B, C; trong đó quy định rõ các phương thức cung ứng SP, DVCI và nguyên tắc lựa chọn. Đối với danh mục loại , Nghị định ghi rõ: “ Vi c cung ứng c c sản h d ch v công ích quy nh tại anh c h c an hành k the Ngh nh này d ông ty t ch nhi hữu hạn ột thành viên d Nhà n ớc à chủ sở hữu thực hi n the h ng thức t hàng h c gia kế h ạch. c nhà sản xuất và cung ứng sản h d ch v công ích kh c thực hi n the h ng thức t hàng.
ờng hợ cung ứng sản h d ch v công ích xây dựng ợc n gi gi của sản h d ch v công ích và ợc cung ứng the gi d Nhà n ớc quy nh thì thực hi n the h ng thức t hàng. ờng hợ cung ứng sản h d ch v công ích chủ yếu hải thực hi n the khối ợng h c chi hí hợ ý sản xuất và cung ứng sản h d ch v công ích có thu hí hí the quy nh của h uật về hí và hí thì thực hi n the h ng thức gia kế h ạch”. Sản phẩm loại gồm: In tiền giấy và các giấy tờ có giá; Sản xuất tiền kim loại; Dịch vụ điều hành bay; Dịch vụ bảo đảm hàng hải, bao gồm: hoa tiêu, thông tin duyên hải, bảo đảm an toàn hàng hải; Quản lý, bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia; Quản lý, bảo trì cảng hàng không, bao gồm: đường băng, hệ thống thông tin tín hiệu; Quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi có quy mô lớn, bao gồm: công trình thủy lợi liên tỉnh và liên huyện, công trình thủy nông kè đá lấn biển; Quản lý, duy tu công trình 10 đê điều, công trình phân lũ và các công trình ph ng chống thiên tai; Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng, rừng ph ng hộ, rừng sinh thái, rừng ngập mặn lấn biển; Sản xuất thuốc phục vụ công tác ph ng, chống các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh; Cung cấp điện, nước sạch cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; Hoạt động điều tra cơ bản về địa chất, khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ, tài nguyên nước, môi trường, biển, hải đảo; Hoạt động khảo sát, thăm d , điều tra về tài nguyên đất đai, nước, khoáng sản và các loại tài nguyên thiên nhiên; Dịch vụ cứu nạn trên biển; Kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông cơ giới; một số sản phẩm, dịch vụ quan trọng khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đối với danh mục sản phẩm loại B, Nghị định cho phép: “c c nhà sản xuất và cung ứng sản h d ch v công ích thực hi n the h ng thức ấu th u h c t hàng.
ờng hợ cung ứng sản h d ch v công ích ứng c c iều ki n the quy nh tại h ng II Ngh nh này thì thực hi n the h ng thức ấu th u”.