phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với DNVVN. Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 – 2017. Quan điểm, định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ, tên tiếng Anh viết tắt là SMEs (Small and medium enterprise) những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nào đó. Từ viết tắt SMEs được dùng phổ biến ở cộng đồng các nước châu Âu, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Liên hợp quốc (UN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và được sử dụng nhiều nhất ở Mỹ.
Các nước cộng đồng châu Âu truyền thống có cách định nghĩa riêng về SMEs của riêng họ, ví dụ ở Đức được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Bỉ là 100 người. Tuy nhiên, đến nay Liên minh châu Âu đã có khái niệm về SMEs chuẩn hóa hơn. Theo đó, những doanh nghiệp có dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, còn các doanh nghiệp có trên 250 lao động là doanh nghiệp vừa. Ngược lại, ở Mỹ những doanh nghiệp có dưới 100 lao động là doanh nghiệp nhỏ và dưới 500 lao động là doanh nghiệp vừa.
Như vậy, ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực có các định nghĩa về DNVVN là khác nhau, chính sự khác nhau đã khiến cho việc nghiên cứu và các DNVVN trở nên khó khăn hơn. Ở Việt Nam, tùy theo từng giai đoạn cụ thể khái niệm DNVVN được đưa ra để phù hợp với mục đích của việc xác định và mức độ phát triển doanh nghiệp. Đến nay, khái niệm DNVVN về cơ bản được hiểu theo định nghĩa trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ: “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Tiêu chí phân loại DNVVN 7 Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng.
Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp,… Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm tra, kiểm chứng mà ít được dùng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó: Số lao động: có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế.
Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản cố định, giá trị tài sản còn lại Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này). Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động. Còn một số tiêu chí khác thì tùy thuộc vào điều kiện từng nước. Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế của một nước; tính chất ngành nghề; vùng lãnh thổ; tính lịch sử; mục đích phân loại.
Tham khảo tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia và khu vực Quốc gia/ Phân loại DN vừa Số lao động Vốn đầu tư Doanh thu Khu vực và nhỏ bình quân A. NHÓM CÁC NƢỚC PHÁT TRIỂN 1. Hoa kỳ Nhỏ và vừa 0-500 Không QĐ Không quy định - Đối với ngành sx 1-300 ¥ 0-300 triệu 2. Nhật - Đối với ngành TM 1-100 ¥ 0-100 triệu Không quy định - Đối với ngành DV 1-100 ¥ 0-50 triệu 8 Siêu nhỏ < 10 Không quy định Không quy 3.
EU Nhỏ < 50 < €7 triệu định Vừa < 250 < €27 triệu Không quy 4. Australia Nhỏ và vừa < 200 Không quy định định Nhỏ < 100 Không quy < CDN$ 5 triệu 5. Canada Vừa < 500 định CDN$ 5 -20 triệu 6. New Không quy Nhỏ và vừa < 50 Không quy định Zealand định Không quy 7.
Korea Nhỏ và vừa < 300 Không quy định định < NT$ 80 8. Taiwan Nhỏ và vừa < 200 < NT$ 100 triệu triệu B. NHÓM CÁC NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Không quy < Baht 200 1. Thailand Nhỏ và vừa Không quy định định triệu - Đối với ngành sản Không quy 2.
Malaysia 0-150 RM 0-25 triệu xuất định Peso 1,5-60 3. Philippine Nhỏ và vừa < 200 Không quy định triệu Không quy 4. Indonesia Nhỏ và vừa < US$ 1 triệu < US$ 5 triệu định Không quy 5.Brunei Nhỏ và vừa 1-100 Không quy định định C. NHÓM CÁC NƢỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI Nhỏ 1-249 Không quy 1.
Russia Không quy định Vừa 250-999 định Nhỏ 50-100 Không quy 2. China Không quy định Vừa 101-500 định Nhỏ < 50 Không quy 3. Poland Không quy định Vừa 51-200 định Siêu nhỏ 1-10 Không quy 4. Hungary Nhỏ 11-50 Không quy định định Vừa 51-250 (Nguồn: 1.Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2.
Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000.) 9 Bảng 1 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô. Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn. là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ. Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát.
nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp. Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia. Số liệu ở bảng 1 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi. Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên.
Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu. Ngân hàng thế giới (World Bank) và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đều sử dụng tiêu chí số lao động để đánh giá. Theo World Bank, doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người). Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp Việt Nam được phân thành 4 nhóm tùy thuộc vào quy mô số lao động, vốn và khu vực kinh tế mà hộ hoạt động, cụ thể bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn.
Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Doanh Doanh nghiệp Doanh nghiệp Quy mô nghiệp Doanh nghiệp vừa nhỏ lớn siêu nhỏ Lao Lao Lao động Vốn Lao động Vốn Khu vực Vốn (tỷ) động động (người) (tỷ) (người) (tỷ) (người) (người) Khu vực Trên nông, lâm Trên 10 Trên 20 Trên Trên <=10 <=20 200 đến nghiệp và đến 200 đến 100 100 300 300 thủy sản Khu vực Trên Trên 10 Trên 20 Trên Trên công nghiệp <=10 <=20 200 đến đến 200 đến 100 100 300 và xây dựng 300 Khu vực Trên 10 Trên 20 Trên 50 Trên Trên thương mại, <=10 <=10 đến 50 đến 50 đến 100 50 100 dịch vụ (Nguồn: Điều 3, Nghị định 56/2009/NĐ-CP) 1. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Những đặc điểm chính của DNVVN ở Việt Nam được thể hiện như sau: - Tính chất hoạt động kinh doanh: DNVVN thường tập chung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn. Trong đó cụ thể là: DNVVN là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư. DNVVN thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hóa, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ.
Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ. Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các DNVVN có lợi thế về tính linh hoạt. Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các DNVVN, nhờ cấu 11 trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các DNVVN. - Về vốn: DNVVN có nguồn vốn nhỏ, thường là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân, việc khởi sự kinh doanh và mở rộng quy mô đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị được thực hiện chủ yếu bằng một phần vốn tự có và tín dụng khác như vay, mượn bạn bè, người thân hay từ các tổ chức tài chính khác trong xã hội.
DNVVN thường hướng vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, thị trường tiêu thụ lớn, nên huy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân.