Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp là một thuật ngữ quen thuộc trong lĩnh vực kinh tế và gắn liền với lĩnh vực kinh tế, nhắc đến kinh tế nói chung không thể không nhắc đến doanh nghiệp và vai trò của doanh nghiệp. Về mặt học thuật có nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau đưa ra về doanh nghiệp, và cũng có những sự khác biệt trong quan niệm về doanh nghiệp giữa các thời kỳ, các nền kinh tế.
Theo Từ điển Kinh tế học của tác giả Nguyễn Văn Ngọc trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Doanh nghiệp hay công ty hay nhà cung cấp (firm or company or supplier) là đơn vị thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi các đầu vào nhân tố thành hàng hóa và dịch vụ cuối cùng hoặc trung gian có giá trị cao hơn. Chúng ta thường gọi quá trình này là sản xuất. Doanh nghiệp là đơn vị cơ sở thực hiện chức năng sản xuất và cung ứng hàng hóa và dịch vụ…” [17; tr.101] Theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy nếu theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì doanh nghiệp là một dạng tổ chức và được phân biệt so với các tổ chức khác ở mục đích hoạt động đó là kinh doanh, hướng đến lợi nhuận.
9 Đối với khái niệm DNNQD, một thực tế phổ biến hiện nay ở tất cả các quốc gia đó là luôn luôn tồn tại các doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước và doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân. Ở Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh gắn liền với quá trình đổi mới của nền kinh tế với sự thừa nhận vị trí, vai trò của hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sự thừa nhận khu vực kinh tế tư nhân đã mở đường cho việc hình thành và phát triển các DNNQD. Trước đại hội Đảng toàn quốc lần VI (1986), Việt Nam chỉ tồn tại hình thức sở hnà nước và tập thể về tư liệu sản xuất, hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ do các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước đảm nhận, sau khi thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) với sự đa dạng về lĩnh vực kinh doanh, đối tượng sản xuất đã nhanh chóng có sự phát triển vượt bậc và ngày càng khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc gia. Khái niệm doanh nghiệp quốc doanh và DNNQD gắn liền với thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới.
Hiện nay, thuật ngữ “doanh nghiệp quốc doanh” hầu như không được sử dụng và được thay thế bởi thuật ngữ “doanh nghiệp nhà nước” (DNNN); tuy nhiên, thuật ngữ “doanh nghiệp ngoài nhà nước” vẫn được sử dụng, đặc biệt trong thống kê để chỉ các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân trong nước, gồm DNTN, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. DNNQD là thuật ngữ được dùng để phân biệt với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gồm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài). Như vậy, trong đề tài luận văn này, DNNQD là doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân trong nước. DNNQD và DNTN được sử dụng thay thế cho nhau và có ý nghĩa tương đương.
Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Các DNNQD có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như tham gia tích cực vào các vấn đề xã hội. 10 Thứ nhất, các DNNQD có đóng góp to lớn vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Các DNNQD có phạm vi kinh doanh rất rộng, bao gồm hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, trong đó có nhiều lĩnh vực then chốt, có hiệu quả kinh tế cao. Các DNNQD hoạt động linh hoạt, chủ động và sáng tạo, không bị tác động và chi phối nhiều bởi các quy định của pháp luật trong hoạt động chuyên môn, nguyên tắc hoạt động, quy trình sản xuất được thực hiện với mục tiêu lợi nhuận và hiệu quả kinh tế.
Sự sáng tạo, chủ động trong sản xuất kinh doanh giúp cho các DNNQD nhanh chóng nắm bắt các cơ hội từ thị trường, tối đa hóa các thế mạnh của doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận và giảm chi phí sản xuất. Hiện nay các DNNQD đã vượt ra ngoài khuôn khổ doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhiều công ty, tập đoàn vươn lên trở thành những trụ cột của nền kinh tế có tầm ảnh hưởng trong và ngoài nước. Thứ hai, các DNNQD tham gia tích cực vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nền kinh tế thị trường đặc trưng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, các quy luật của thị trường được biểu hiện sinh động qua hoạt động của các chủ thể kinh tế khác nhau trong xã hội, xây dựng nền kinh tế thị trường là xu thế chung của các nền kinh tế, tạo động lực để phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường trao đổi, buôn bán, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
DNNQD vừa là đối tượng chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường, của các quy luật thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, mặt khác DNNQD cũng tham gia vào việc hình thành, phát triển nền nền kinh tế thị trường thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Với sự tham gia của các DNNQD, nền kinh tế thị trường từng bước được hình thành và phát triển với sự đa dạng về hàng hóa, dịch vụ, các quan hệ kinh tế. Bên cạnh đó các DNNQD cũng đóng góp tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nhiệm vụ 11 trọng tâm và quyết định đến con đường phát triển, muốn chuyển dịch theo hướng tăng giảm tỉ trọng các ngành, các lĩnh vực khác nhau thì yêu cầu tất yếu là phải có những tổ chức kinh tế mang tính tiên phong và trụ cột, và các DNNN rất khó trong quá trình chuyển đổi này, các DNNQD thì khác, vì có quy mô nhỏ hơn, cơ cấu tổ chức đơn giản hơn nên sự chuyển đổi diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn và phản ánh đúng quy luật vận động của nền kinh tế. Thứ ba, DNNQD là động lực thúc đẩy hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế.
Bản chất của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là sự xích lại gần nhau hơn nữa giữa các nền kinh tế, giữa các doanh nghiệp của các quốc gia khác nhau, là sự tăng cường hơn nữa mối quan hệ về hợp tác trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu khoa học. Các DNNQD với số lượng chiếm ưu thế so với các loại hình doanh nghiệp khác luôn khẳng định khát khao vươn lên, không ngừng lớn mạnh với sự chinh phục cả thị trường trong nước và quốc tế. Trong một sân chơi kinh tế mà cơ hội cũng như thách thức ngày càng lớn thì các DNNQD phải luôn luôn tự cải thiện, nâng cao năng lực sản xuất và cung ứng hàng hóa dịch vụ, từ đó có đủ khả năng để vừa hợp tác, vừa cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác trong khu vực và trên thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tác động đến cộng đồng doanh nghiệp nói chung và DNNQD nói riêng, tất cả các hoạt động của doanh nghiệp phải bám sát hiệu lệnh từ thị trường và thị trường ở đây là thị trường thế giới, thị trường ở quy mô toàn cầu.
Thứ tư, các DNNQD góp phần giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội. Vấn đề xã hội quan trọng nhất mà các DNNQD giải quyết có hiệu quả đó là vấn đề việc làm, hàng nghìn cơ sở đào tạo bao gồm cả đào tạo đại học và đào tạo nghề trên cả nước đào tạo ra hàng triệu lao động, đây là con số rất lớn, số lượng lao động này nếu được sử dụng đúng, phù hợp với trình độ chuyên môn, năng lực thì sẽ góp phần to lớn thúc đấy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, số 12 lượng lao động mới được đào tạo lại hết sức đa dạng về trình độ và nhu cầu công việc, các tổ chức khác nhau trong xã hội lại có nhu cầu về người lao động khác nhau, do đó dẫn đến tình trạng có ngành nghề dư thừa lao động song cũng có ngành nghề thiếu hụt lao động. Với số lượng đông, ngành nghề kinh doanh đa dạng, khu vực DNNQD có nhu cầu rất lớn về lao động, và là thị trường tiềm năng cho các cơ sở đào tạo.
Thực tế cho thấy phần lớn người tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo đều lựa chọn các DNNQD để làm việc. Mặt khác, có thể thấy nhu cầu về trình độ, năng lực của người lao động ở các DNNQD cũng rất phong phú, bao gồm trình độ ở nhiều mức độ khác nhau bao gồm lao động phổ thông, lao động có trình độ cao, lao động chưa qua đào tạo và đã qua đào tạo. DNNQD tham gia giải quyết các vấn đề xã hội một cách trực tiếp thông qua hoạt động kinh doanh, hiện nay có nhiều DNNQD đã và đang thực hiện nhiều mảng kinh doanh mà trước kia chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh thực hiện hoặc các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện như giáo dục, y tế, văn hóa, giao thông công cộng. Đây có thể nói là đóng góp vô cùng quan trọng của DNNQD trong giải quyết các vấn đề xã hội, san sẻ phần nào gánh nặng của nhà nước, chuyển đổi mô hình QLNN từ người chèo thuyền sang người lái thuyền.
Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh DNNQD đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có quy mô sản xuất không lớn, số vốn không cao.