CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về QLNN đối với doanh nghiệp tại KCN. Khái quát về Khu công nghiệp và doanh nghiệp KCN 1. Khái quát về Khu công nghiệp a) Khái niệm: KCN đã hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Mặc dù chưa có một định nghĩa chung được thừa nhận về KCN song theo thời gian đã có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra về KCN như sau: KCN là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinh sống. Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ. KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính - kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu. KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác.
Theo quan điểm này, ở một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia,… đã hình thành nhiều KCN với quy mô khác nhau và đây cũng là loại hình KCN nước ta đang áp dụng hiện nay. Ở nước ta, KCN được đề cập đến từ khi miền Bắc xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên; miền Nam khi Mỹ nguỵ xây dựng KCN Biên Hoà. Nhưng chỉ đến khi có Luật Đầu tư nước ngoài (1986), khái niệm về KCN mới được chính thức nêu ra tại Khoản 14&15, điều 2. Theo văn bản này, “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp”.
Theo Từ điển Wikipedia, KCN còn gọi là khu kỹ nghệ là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự 6 hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường. KCN thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng. Theo Nghị định 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về KCN thì: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này” KCN gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, KCN hỗ trợ, KCN sinh thái (sau đây gọi chung là KCN trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình). Theo Điều 3, Luật số 61/2020/QH14 Luật Đầu tư của Quốc hội ban hành ngày 17/6/2020: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” Tổng hợp từ các quan điểm trên có thể hiểu: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ.
KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập. b) Đặc điểm KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP. Đây là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường. KCN được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng.
Những KCN có quy mô nhỏ thường được gọi là cụm công nghiệp. c) Loại hình KCN - Khu chế xuất: là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP. 7 - KCN hỗ trợ: là KCN chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của KCN; - KCN Sinh thái: là KCN, trong đó có các doanh nghiệp trong KCN tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp.
Doanh nghiệp trong KCN a) Khái niệm: Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ. - Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN. - Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp. b) Đặc điểm của doanh nghiệp trong KCN Doanh nghiệp trong KCN, về bản chất là những doanh nghiệp được thành lập và hoạt động kinh doanh bình đẳng như các doanh nghiệp nói chung.
Vậy, doanh nghiệp trong KCN có thể là doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu và được tổ chức theo các loại hình và quy mô mà nhà đầu tư lựa chọn. Tuy nhiên, điểm khác biệt, tạo ra đặc điểm của doanh nghiệp KCN là ở chỗ: Thứ nhất, doanh nghiệp trong KCN có ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh là công nghiệp. Các doanh nghiệp này chỉ thực hiện sản xuất hàng công nghiệp hoặc cung cấp các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Doanh nghiệp trong KCN không thể thực hiện kinh doanh các dịch vụ phi công nghiệp hay các ngành, lĩnh vực trong nông, lâm, ngư nghiệp.
Thứ hai, các doanh nghiệp trong KCN có ranh giới xác định, không nằm tự do trong các khu dân cư như các doanh nghiệp khác. Thứ ba, doanh nghiệp có trụ sở trong hay ngoài KCN muốn đầu tư vào trong KCN đều phải có chung dự đầu tư. Theo quy định Luật Đầu tư năm 2014, quy định 8 “dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Có nghĩa khi doanh nghiệp đầu tư một hay nhiều dự án đầu tư trong KCN đều phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và trong khoảng thời gian nhất định.
Thứ tư, doanh nghiệp trong các KCN không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật về quản lý doanh nghiệp nói chung mà còn chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp theo quy chế riêng biệt, được quy định trong Quy chế về KCN, quy định cụ thể trong các điều khoản của Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường…Theo đó, doanh nghiệp trong KCN thường phải thực hiện các trách nhiệm và được hưởng quy chế riêng của Nhà nước. Các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tại KCN khác với các doanh nghiệp ngoài KCN ở nhiều mặt, trong đó cơ bản là: - Doanh nghiệp tại KCN không phải thực thiện đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư; không phải xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào dự án được cấp. Nói đến KCN là nói đến sản xuất tập trung, thông thường khi thành lập một KCN (có thể do tư nhân hay nhà nước làm chủ đầu tư) chủ đầu tư phải thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư; phải xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào dự án đầu tư (của doanh nghiệp thứ cấp) để cho doanh nghiệp thứ cấp thuê lại đất để thực hiện dự án đầu tư của mình. Như vậy, doanh nghiệp KCN chỉ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà xưởng… của mình và trả tiền san tạo mặt bằng, tiền thuê đất… theo quy định tại KCN đó.
Tuy nhiên, do đặc điểm của từng KCN (có KCN chưa được đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư, xây dựng cơ sở hạ tầng thì doanh nghiệp KCN phải tự thực hiện các nhiệm vụ trên và chỉ phải trả tiền thuê đất theo quy định). - Doanh nghiệp tại KCN phải thực hiện đầu tư dự án phù hợp với quy hoạch về đất đai, ngành hoặc lĩnh vực. Trước tiên, nói đến dự án đầu tư là nói đến dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt vào KCN (vào lô đất, ngành sản xuất, sản phẩm…). Khi dự án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt doanh nghiệp phải triển khai thực hiện đầu tư xây dựng và sản xuất kinh doanh theo đúng mực tiêu đầu tư (địa điểm, mật độ, quy mô xây dựng; quy mô đầu tư; thời gian đầu tư; mục tiêu đầu tư).
Tuy nhiên, khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư mà 9 doanh nghiệp triển khai đầu tư, xây dựng, sản xuất kinh doanh không đúng với dự án được duyệt thì cơ quan có thẩm quyền sẽ thu hồi lại dự án đầu tư (kể cả đã bỏ vốn đầu tư xây dựng mà không được đền bù thiệt hại về các khoản đã đầu tư).