CHƯƠNG 1: KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Khái quát chung về KTTN 1. Khái niệm và vai trò KTTN trong phát triển kinh tế xã hội Kháí niệm Thuật ngữ KTTN tùy thuộc vào những cách tiếp cận mà có những cách hiểu dẫn đến những khái niệm khác nhau, các nền kinh tế thị trường phát triển, mọi hoạt động kinh tế nếu không thuộc khu vực công đều được coi là khu vực KTTN. Ở Trung Quốc, khu vực KTTN cùng lúc được hiểu là: Khu vực phi nhà nước: bao gồm tất cả các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước, cả trong công nghiệp và nông nghiệp.
Khu vực phi nhà nước, phi nông nghiệp: gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước, nhưng loại trừ lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực tư nhân: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước nhưng loại trừ các doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể. Khu vực tư nhân trong nước: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước nhưng loại trừ các doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp tư nhân: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước nhưng loại trừ các hộ cá thể (có ít hơn 8 công nhân).
Theo Kornai Janos, nhà kinh tế học người Hungary, tác giả của cuốn sách “Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường”, thì khu vực KTTN là những gì thuộc về: kinh tế hộ gia đình, xí nghiệp tư nhân chính thức, xí nghiệp tư nhân phi chính thức hoạt động như một đơn vị “kinh tế ẩn” và thậm chí bất kể sử dụng tài sản của tư nhân vào việc hữu ích nào. Ở nước ta cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về KTTN: Theo nghĩa rộng, khu vực KTTN là khu vực dân doanh bao gồm các doanh nghiệp tư nhân trong nước, kể cả các hợp tác xã nông nghiệp, các doanh nghiệp phi nông nghiệp và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh hay 100% vốn. Theo nghĩa hẹp, khu vực KTTN là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhưng không bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (số liệu thống kê thường theo cách phân loại này khi phân chia nền kinh tế thành ba khu vực: khu 7 vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài).[9] Theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, Đại hội toàn quốc lần thứ XI (1/2011), Đảng ta khẳng định, phải “hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh KTTN trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình KTTN ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật”[1].
Từ những cách hiểu trên và sự tiếp cận quan điểm của Đảng về KTTN như sau: KTTN tại Việt Nam hiểu một cách khái quát chung là khu vực kinh tế nằm ngoài khu vực kinh tế nhà nước (không bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó: Kinh tế cá thể là hình thức kinh tế dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình. Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn thêm lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình. Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Hiện nay, KTTN tồn tại dưới các hình thức như: doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh công ty cổ phần (không có hoặc có vốn nhà nước dưới 50%) và các hộ kinh doanh cá thể.
Vai trò KTTN trong phát triển kinh tế xã hội Khu vực KTTN đóng góp trên 40% GDP của nền kinh tế và có dấu hiệu tăng lên nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Đến năm 2019, ước tính KTTN đóng góp 42,1% GDP của nền kinh tế và có dấu hiệu tăng lên. 8 Trong đầu tư phát triển toàn xã hội khu vực KTTN còn chiếm tỷ trọng ngày càng lớn và có xu hướng vượt khu vực kinh tế nhà nước để trở thành thành phần kinh tế thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội lớn nhất. Vốn đầu tư thưc hiên toàn xã hội của khu vực KTTN tăng đều đặn xấp xỉ 10% hàng năm.
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của khu vực KTTN cao hơn 1,2 lần so với mức bình quân của nền kinh tế và hơn 1,9 lần so với khu vực nhà nước. Vai trò của KTTN càng trở nên quan trọng hơn khi mà khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. KTTN thúc đẩy thành lập mới doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp thành lập mới và số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động tăng lên. Tính chung năm 2019, cả nước có 138 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 5,2% so với năm 2018.
Bên cạnh đó, còn có 39,4 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhờ môi trường kinh doanh được cải thiện và các chính sách của Nhà nước hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp. Sự phát triển mạnh mẽ của KTTN trong một số lĩnh vực như xây dựng, chế biến, chế tạo, công nghiệp ô tô, vận tải hàng không, tài chính, ngân hàng.góp phần không nhỏ trong phát triển thương hiệu quốc gia Việt Nam. Ưu điểm nổi bật của KTTN so với các thành phần kinh tế khác vi là thành phần kinh tế có khả năng tạo ra nhiều việc làm nhất. Bởi lẽ, KTTN với các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng, các loại quy mô phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nên thu hút đông đảo lực lượng lao động.
Theo số liệu thống kê hiện nay, khu vực KTTN nước ta thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, hàng năm tạo ra khoảng 01 triệu việc làm cho người lao động. Đặc biệt, với sự phát triển của hộ kinh doanh cá thể trong khu vực nông thôn, KTTN đã góp phần quan trọng tăng thu nhập cho người dân ở nông thôn, cải thiện đời sống cho người dân Khu vực KTTN còn đóng góp quan trọng đối với thu ngân sách nhà nước, tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. … việc xây dựng các 9 công trình văn hóa, trường học, thể dục thể thao, giao thông, bệnh viện và các công trình phúc lợi khác có sư đóng góp đáng kể của các doanh nghiệp KTTN Thực hiện các quan điểm đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, khu vực KTTN nước ta đã không ngừng phát triển, ngày càng khẳng định vai trò của mình trong thực tế đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trên tất cả các mặt, các lĩnh vực. Đặc điểm của KTTN - Thứ nhất: KTTN ở Việt Nam rất đa dạng về loại hình tổ chức kinh doanh, về lĩnh vực kinh doanh, về hình thức sở hữu, về địa bàn hoạt động.
Trước kia trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, tồn tại chủ yếu dưới hai loại là hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể thì hiện nay KTTN tồn tại, phát triển ở nhiều loại hình như DN tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, hợp tác xã… - Thứ hai: Sở hữu của KTTN là sở hữu tư nhân. Nếu kinh doanh có lãi thì người kinh doanh được hưởng lợi va ngược lại nếu kinh doanh thua lỗ thì người kinh doanh bị thiệt. KTTN thường có hiệu quả cao do người làm KTTN rất quan tâm và tích cực phấn đấu để có lợi nhuận cao nhất. -Thứ ba: KTTN Việt Nam gắn liền với khu vực kinh tế có số lượng lớn nhưng quy mô nhỏ bé, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ nhân lực không cao, khả năng tiếp cận thông tin chưa tốt.
-Thứ tư: Tính không chính thức và bán chính thức cao là một đặc điểm nổi bật của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam. Các thủ tục hành chính rườm rà, không hợp lý, quá trình thực thi không hiệu quả, quy định quá mức chặt chẽ, chi phí tuân thủ cao khiến nhiều hộ kinh doanh cá thể không muốn đăng ký kinh doanh chính thức nhằm tránh thực thi các yêu cầu về báo cáo tài chính và thuế, các quy định về an toàn lao động, về an sinh xã hội. - Thứ năm: Môi trường pháp lý cho sự phát triển của các KTTN Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện nên còn nhiều sự chồng chéo dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện. Các loại hình KTTN Doanh nghiệp tập thể (Hợp tác xã) HTX là loại hình kinh tế tập thể, do những người lao động và các tổ chức có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Doanh nghiệp tư nhân Gồm 4 loại hình doanh nghiệp cơ bản: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hiện nay vẫn phát triển cao nhất, công ty hợp danh gần như không đáng kể. Trong các loại hình doanh nghiệp, công ty cổ phần được quyền phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để thu hút vốn đầu tư. Chủ trương của nhà nước là tăng cường phát triển loại hình công ty cổ phần nhằm tạo tiền đề cơ bản và lâu dài cho khu vực KTTN.
Hộ sản xuất kinh doanh cá thể Do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh, không đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp và có hoạt động chính là hoạt động phi nông nghiệp.