CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DNN&V Ở VIỆT NAM 1. Sự cần thiết và tính tất yếu của DNN&V trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCNở Việt Nam: Trong bất kỳ nền kinh tế nào, sự tổn tại và phát triển các DDN&V là một tất yếu bởi các lý do sau: - Sự phát triển của phân công lao động xã hội giữa các ngành, , các lĩnh vực và các vùng so với sự phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hoá lao động trong nên kinh tế của mỗi nước luôn tổn tại không đồng đều biểu hiện bằng những hình thức tổ chức sản xuất với những quy mô khác nhau. - Nhu cầu vô cùng da dạng, phong phú trên thị trường, các DN lớn không thể tôn tại một mình và vươn tới tất cả mọi hoạt động để đáp ứng được. Quy luật lợi nhuận và yêu cầu hiệu quả kinh tế làm xuất hiện và tổn tại đồng thời trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau giữa DN lớn DDN&V như những lực lượng bổ sung, hỗ trợ nhau cùng phát triển.
- Trong nên kinh tế của mỗi nước, các DDN&V là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu được. Sự phát triển va tổn tại của DDN&V từng nước đã đóng góp hết sức quan trọng vào tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia. - DDN&V mang lại lợi ích rất lớn, đặc biệt trong việc giải quyết những mục tiêu xã hội quan trọng như việc làm, thu nhập. Sự phát triển không đều giữa các vùng dân cư, các DDN&V được sử dụng như một giải pháp phát triển nhằm thực hiện những nhiệm vụ đó.
Do đó, sự hỗ trợ các DDN&V không chỉ đem lại lợi ích cho các các DDN&V ma đem lại cho lợi ích xã hội. Vị trí, vai trò của DNN&V trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: 14 Về mặt lý luận và thực tiễn số liệu thống kê cho thấy DNN&V có vị trí khá lớn ở nhiễu nước trên thế giới, trong đó bao gồm các nước công nghiệp phát triển. Về số lượng chiếm ưu thế tuyệt đối, DNN&V có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tôn tại trong một bộ phận không thể thiếu được trong nên kinh tế của mỗi nước. Nó là một bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ với các DN lớn phát triển.
- DNN&V góp phần quan trọng tao công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho dân cư. Với tốc độ tăng dân số hiện nay cùng với quá trình đô thị hoá, quá trình CNH - HDH làm cho nhu cầu giải quyết việc làm ngày càng trở nên bức bách, suất đầu tư để tạo ra một chỗ làm việc ở DNN&V thấp hơn nhiều so với DN lớn, Chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm cho DNN&V ở Việt Nam vào khoản 740.000 đồng, chỉ bằng 3% trong các DN lớn. DNN&V dễ dàng tiếp nhận lao động doi ra từ khu vực nông nghiệp chưa đòi hỏi trình độ cao, phải đào tao qua nhiều thời gian chi phí tốn kém, mà chỉ cần bồi dưỡng hay đào tạo ngắn hạn là cá thể tham gia sản xuất được. Hiện nay DNN&V đã thu hút rất nhiều lao động, đưa tổng số lao động đến khoản 6 triệu việc làm chiếm khoản 17% lực lượng lao động , nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, tham gia canh tranh, phát triển nông thôn cũng như tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng làm nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách đảm bảo sự lâu dài, bền vững và công bằng.
Vai trò giải quyết việc làm của các DNN&V không chỉ là số lao động thường xuyên ở các DNN&V, mà còn là sự tạo điều kiện để lao động ngoài quốc doanh có việc làm thông qua các hoạt động như cung ứng đầu vào, tiếp nhận đầu ra và phục vụ sản xuất kinh doanh cũng như những công việc không thường xuyên do các cá nhân và hộ gia đình bên ngoài đảm nhận. Đặc biệt đối với những ngành nghề truyén thống thì tỷ lệ này còn cao hơn. - DNN&V đã tạo nên nguồn thu đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. 15 DNN&V ở nước ta có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân, cũng như nhiễu nước trên thế giới, đã đóng góp khoản 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, khoản 35 — 36% GDP trong toàn quốc cả nước.
Nếu căn cứ vào tốc độ tăng trưởng GDP của các DNN&V tốc độ tăng trưởng, tiểm năng tăng trưởng để đạt những mục tiêu kinh tế xã hội để ra trong giai đoạn phụ thuộc rất lớn vào sự phát tiển của DNN&V chứ không chỉ phụ thuộc vào các công trình, dự án lớn. - Phát triển DNN&V tạo điều kiện tận dụng triệt để các nguôn lực xã hội: DNN&V thường được bắt đầu từ một nguồn vốn rất hạn hẹp và chủ yếu từ người dân. Hầu như không có sự trợ giúp nào từ bên ngoài, vốn dau tư cho DNN&V thường là vài ba trăm triệu thậm chí chưa đến một trăm triệu vì vậy, nó có khả năng thu hút vốn một số ngành nghề trong dân cư rất lớn. DNN&V với nguồn lợi rất ít, lao động thủ công cơ giới là chủ yếu.
-_ DNN&V đóng góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tế một đội ngũ doanh nhân mới trong nền kinh tế thị trường: Trong thực tế, có những DNN&V cứ giữ mãi quy mô hoạt động của mình là bởi vì phù hợp với khả năng kinh doanh và ngành nghề mà họ đeo đuổi nhưng cũng có vài DN phát triển lên thành DN lớn. Dù ở quy mô nào DNN&V cũng là vườn wom nhân tài cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước. Phải xoá bỏ mọi kỳ thị, phân biệt hoặc đối xử đối với doanh nhân nhất là doanh nhân trong khu vực doanh nhân. - DNN&V không cần vốn lớn, có thể giảm chi phí đầu vào và tăng khả năng thu nhập từ đâu ra.
DNN&V có lợi thế là quy mô vốn nhỏ, dé dàng huy động, sử dụng đồng tiền phân tán và nhàn rỗi trong nhân dân. Có nhiều DNN&V thành lập trên cơ sở 16 lấy từ nguồn vốn do tiết kiệm của gia đình. Sử dụng vốn tiết kiệm của gia đình , không chịu lãi suất cao. - DNN&V có tác dụng tạo nguồn kích thích cạnh tranh kinh tế giữa các DN.
Khi các nhà sản xuất chi là một số nhỏ DN lớn thì khách hàng dé bị họ áp đảo, họ có thể áp đặt giá cao, kìm hãm sự phát triển của kỹ thuật, loại trừ các cạnh tranh và lạm dụng vị trí lạm quyền của họ để thao túng thị trường. Do đó, cần có DNN&V để tạo ra thế cạnh tranh nhằm hạn chế tình hình trên. Đặc điểm, tiêu chí của DNN&V ở Việt Nam. Đặc điểm DNN&V ở Việt Nam: - DDN&V ở Việt Nam thường gắn với công nghệ lạc hậu, thủ công.
DDN&V do công nghệ lạc hậu chiếm tỷ trọng rất lớn, đây là điểm khác biệt DDN&V ở Việt Nam so với DDN&V ở các nước công nghiệp phát triển. Mặt khác, tốc độ đổi mới công nghệ của các DDN&V ở Việt Nam rất chậm so với các nước trên thế giới, công nghệ trang bị và sử dụng thường rất hiện đại. Chúng chỉ khác DN lớn về quy mô vốn đầu tư, số lao động. Do đó, kha năng sản xuất, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm do các DDN&V của nước ngoài tạo ra và là một bộ phận không thể tách rời của DN lớn.
So với DDN&V nước ngoài các DDN&V ở Việt Nam phân tán hơn, khả năng liên kết với nhau và với DN lớn yếu hơn. - DDN&V ở Việt Nam trước tiên và chủ yếu là DN thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Bởi vậy, đặc điểm và tính chất của DN thuộc khu vực này mang tính đại điện cho DN Việt Nam. Cụ thể các con số thống kê cho đến nay chủ yếu tổng kết cho khu vực DN ngoài Quốc doanh (DNNQD) chứ chưa có số liệu điều tra riêng biệt cho toàn bộ các DDN&V ở Việt Nam.
Tiêu chí phân loại: 6 Viét Nam, c6 nhiéu tiéu chi phan lai DNN&V: 17 - Ngân hàng Công thương Việt Nam có nhiều tiêu chí phân loại DNN&V là DN có dưới 50 lao động, vốn cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động và doanh thu hàng năm dưới 20 tỷ đồng. - Thông tư liên bộ số: 21/LĐTT ngày 17/06/1993 của Bộ Lao động và Thương binh xã hội và Bộ Tài chính: Lao động thường xuyên dưới 100 người, doanh thu hàng năm dưới 10 tỷ động, vốn pháp định dưới 1 tỷ đồng. - Dự án VPE/US/95/004 hỗ trợ DN nhỏ ở Việt Nam do UNIDO tài trợ coi DNN&V có lao động dưới 30 người vốn đăng ký 1 tỷ đồng, cũng theo dự án DN vừa có lao động từ 37 đến 200 người và vốn đăng ký dưới 50 £ÿ đồng. - Quỹ hỗ trợ DNN&V chương trình VN-EU: DN nghiệp được qũy này hỗ trợ gồm các DN có số công nhân từ 10 đến 500 người và vốn diéu lệ từ 50 ngàn đến 300 ngàn USD.
- Quỹ phát triển nông thôn (thuộc Ngân hàng Nhà nước) coi DNN&V là DN giá trị tài sản không quá 2 triệu USD, lao động không quá 500 người. - Ngày 20/06/1998 tại công văn số 681/CP-KTN của Chính phủ đã tạm thời thống nhất tiêu chí xác định DNN&V ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người. Quy định cũng nêu rõ trong quá trình thực hiện các Bộ, Ngành, địa phương có thể căn cứ vào tình hình xã hội cụ thể mà áp dụng đồng thời 2 tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên. - Nghi định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về hỗ trợ phát triển.
Theo điều 3 của Nghị định này là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc lao động trung bình không quá 300 người. Đồng thời cho phép các ngành, địa phương có thể áp dụng linh hoạt cả hai hay một trong hai tiêu chí trên. Với Nghị định này, hộ cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP về đăng 18 ký kinh doanh vẫn được xếp loại là cơ sở san xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ky kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc lao động trung bình không quá 300 người. Tiêu chí xác định DNN&V ở Việt Nam mới chỉ có tính ước lệ.
Ban thân tiêu chí đó chưa xác định thế nào là DNN&V. Có nhiều quan điểm khác nhau về các đối tượng, các chủ thể kinh doanh nào được coi là thuộc về hoặc không thuộc về DNN&V.