chương 1, Nghị định 56/2009/NĐ-CP: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp : siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), ngoài các tiêu chí trên Nghị định còn căn cứ vào ngành hoạt động để phân loại từng loại hình doanh nghiệp theo lĩnh vực hoạt động, cụ thể như sau: Bảng 2: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo quy định của Việt Nam Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn động nguồn vốn động vốn I. Nông, lâm nghiệp 10 người 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 và thủy sản trở xuống đồng trở người đến đồng đến người đến xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp và 10 người 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 xây dựng trở xuống đồng trở người đến đồng đến người đến xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương mại và 10 người 10 tỷ từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 dịch vụ trở xuống đồng trở người đến đồng đến người đến xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người ( Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP) Nghị định này quy định rằng: căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
Như vậy, DNSVM được xác định hoàn toàn theo các tiêu thức về quy mô mà không quan tâm đến hình thức sở hữu. Điều này đã làm thay đổi tư duy quản lý cũng như nhận thức chung của xã hội, bởi trước đó, gần như chưa có khái niệm cụ thể nào về đối tượng DNSVM, DNSVM thường bị đồng nhất với doanh nghiệp mang tính chất gia đình, dẫn đến những phân biệt đối xử với loại hình doanh nghiệp này. 11 Theo số liệu điều tra doanh nghiệp trong ấn phẩm: Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam do Tổng cục Thống kê công bố năm 2011, tính đến hết ngày 01/01/2010 cả nước có 248.842 doanh nghiệp đang hoạt động thì theo tiêu thức phân loại doanh nghiệp về quy mô vốn và lao động cơ cấu các doanh nghiệp như sau: Bảng 3: Thống kê số lượng doanh nghiệp theo quy mô Loại doanh nghiệp Số lượng Tỷ trọng (%) 1.842 100 Nguồn: Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam năm 2007,2008,2009 phân theo ngành kinh tế VSIC 2007, Tập 2, NXB Thống kê, Hà Nội, 2011 Theo điều tra của Tổng cục Thống kê, tổng số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động (cập nhật tại thời điểm 31/12/2016) trên cả nước là 477.808 doanh nghiệp, tăng 8% so với năm 2015 (442.485 doanh nghiệp), trong đó khoảng 97% số doanh nghiệp là DNVVN. Trong số đó thì 85-90% là doanh nghiệp vừa và siêu nhỏ.
Con số thống kê trên bao gồm cả 3 thành phần là DN tư nhân, DNNN và DN đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tỷ lệ số các DN vừa và nhỏ vẫn không thay đổi, chiếm khoảng 97%, quy mô siêu nhỏ với 60% doanh nghiệp có số lao động dưới 10 người.Đặc điểm của DN siêu nhỏ ( Doanh nghiệp siêu vi mô) tại Việt Nam Doanh nghiệp siêu vi mô tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế và họat động ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau: Với chính sách chuyển đổi nền kinh tế với sự thừa nhận của các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng. Ngoài ra với quy mô vốn thấp, đội ngũ lao động vừa phải, DNSVM có mặt trong các thành phần kinh tế truyền thống của Việt Nam như: các hợp tác xã và liên hợp tác xã; Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân. Điều đáng lưu ý là gần 100% doanh nghiệp hoạt động ở các vùng nông thôn là DNVVN và siêu vi mô.
12 Tính năng động và linh hoạt cao Các DNSVM đều có chi phí đầu tư thấp chủ yếu là để tận dụng lao động và nguồn nguyên vật liệu tại chỗ. Do vậy, các doanh nghiệp này có thể dễ dàng chuyển đổi phương án sản xuất, mặt hàng kinh doanh cũng như lọai hình doanh nghiệp để nhanh chóng thu hồi vốn hoặc đem lại hiệu quả kinh tế cao. Phần lớn các DNSVM có nguồn tài chính hạn chế Do có quy mô nhỏ nên đối với hầu hết các doanh nghiệp ngòai quốc doanh, vốn kinh doanh của họ được huy động từ người thân, anh em, họ hàng. Nhìn chung khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác của các DNSVM rất hạn chế nên khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp này cũng có hạn chế.
Thông thường để huy động vốn cho kinh doanh các DNSVM phải huy động từ các nguồn tài chính phi chính thức với lãi suất cao. Điều đó đã gây không ít khó khăn hạn chế hiệu quả kinh doanh, phát triển cũng như họat động của doanh nghiệp. Bộ máy quản lý gọn nhẹ, trình độ quản lý còn hạn chế Thông thường các DNSVM là các doanh nghiệp ngòai quốc doanh mà chủ yếu lại là các doanh nghiệp tư nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn nên nhìn chung bộ máy quản lý tổ chức gọn nhẹ. Các quyết định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc phiền hà nên nhìn chung có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên, với sự thừa nhận tồn tại của các thành phần kinh tế và sự “bùng nổ” của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ đổi mới nên có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập chỉ do họ có tiền còn về vấn đề quản lý kinh tế còn khá yếu kém. Trên thực tế có nhiều người quản lý doanh nghiệp chưa hết trình độ phổ thông trung học, chưa từng được đào tạo qua một chương trình quản lý nào. Đối với họ chỉ quản lý doanh nghiệp theo kinh nghiệm nên sổ sách kế toán, các số liệu kinh tế tài chính của các doanh nghiệp này không được đầy đủ và cập nhật hàng ngày. Điều đó gây nên những khó khăn không nhỏ đối với công tác quản lý DNSVM trong nền kinh tế.Thuận lợi: Ngoại trừ các doanh nghiệp họat động trong các ngành nghề đặc thù không cần vốn lớn, có thể tận dụng được nguồn vốn chiếm dụng của người mua mà vẫn có thể đem lại lợi nhuận cao như viết phần mềm vi tính…đòi hỏi một số lượng người lao động ít nhưng trình độ cao.
Hầu hết các DNSVM tại Việt Nam là những doanh nghiệp 13 có đội ngũ lao động không cần trình độ cao. Do đó với ưu thế nguồn lao động phổ thông dồi dào của Việt Nam, các DNSVM gặp rất nhiều thuận lợi trong việc tuyển dụng lao động phục vụ cho họat động sản xuất kinh doanh của chính mình. Phần lớn các DNSVM họat động còn mang tính chất gia đình là chính, nên các doanh nghiệp này nhận được sự hỗ trợ rất lớn của các thành viên trong gia đình về vốn, kinh nghiệm làm việc, một thực tế hiện nay đang diễn ra là phần lớn nguồn vốn họat động của các DNSVM là huy động vốn nhàn rỗi trong cộng đồng dân cư mà nhiều khi các ngân hàng còn gặp rất nhiều khó khăn mới huy động được và với tinh thần tương thân tương ái truyền thống của Việt Nam, các DNSVM thường gặp nhiều thuận lợi trong việc hỗ trợ lẫn nhau về các mặt như vốn, kinh nghiệm, thông tin đối với các doanh nghiệp họat động trong cùng ngành nghề hay cùng địa phương. Bộ máy quản lý gọn nhẹ, tính năng động và linh họat cao nên các DNSVM tiết kiệm được phần lớn chi phí, và nhanh chóng đưa ra những quyết định kinh doanh kịp thời, không phải qua các khâu các cấp mất nhiều thời gian làm vuột mất cơ hội kinh doanh.
Hơn thế nữa các doanh nghiệp này dễ dàng chuyển đổi phương án sản xuất kinh doanh và mặt hàng kinh doanh cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội vào từng thời điểm hơn các doanh nghiệp lớn. DNSVM phần lớn là các những doanh nghiệp ngòai quốc doanh, vốn doanh nghiệp bỏ ra là vốn của từng thành viên trong doanh nghiệp, với phương châm “đồng tiền đi liền khúc ruột” các doanh nghiệp này sử dụng nguồn vốn của mình một cách có chọn lọc và không vung tay bừa bãi, điều này không những giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả mà còn góp phần giúp cho các ngân hàng có cách nhìn khác về DNSVM, ngày càng có nhiều ngân hàng mạnh dạn rót vốn cho DNSVM vì họ cho rằng DNSVM sẽ biết quý đồng tiền mà họ bỏ ra hơn các doanh nghiệp nhà nước, như vậy vốn ngân hàng sẽ được sử dụng có hiệu quả, giảm thiểu rủi ro tín dụng xảy ra.Khó khăn Khó khăn về tài chính: Thiếu vốn đang là một trong những khó khăn lớn nhất đối với các DNSVM hiện nay. Các doanh nghiệp khai thác vốn chủ yếu từ hai nguồn: Nguồn vốn vay phi chính thức và nguồn vốn chính thức. Trong đó chủ yếu là nguồn thứ nhất.
Sự khó khăn về tài chính của các DNSVM là do bản thân doanh nghiệp (không có tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng, không có các phương án kinh doanh 14 đủ sức thuyết phục) và do các quy định của ngân hàng (thủ tục vay vốn phức tạp, lãi suất cao). Máy móc thiết bị lạc hậu, năng lực công nghệ bị hạn chế: Hiện nay phần lớn các DNSVM đều sử dụng các máy móc thiết bị tự chế tạo với công nghệ thấp, năng suất không cao hoặc mua các máy móc thiết bị đuợc sản xuất trong nước với chất lượng không cao. Nếu nhập khẩu thì cũng chỉ là những máy móc thiết bị đã qua sử dụng, Nguyên nhân do doanh nghiệp thiếu vốn để trang bị công nghệ hiện đại, thiếu thong tin về công nghệ. Trình độ độ cán bộ quản lý và lao động của DNSVM còn hạn chế.
Phần lớn các DNSVM ở Việt Nam là các công ty gia đình, họat động theo mô hình tự quản, các cấp quản lý từ giám đốc đến kế tóan trường và trưởng các phòng ban (nếu có) là một người nào đó có mối quan hệ trong gia đình, chưa qua các trường lớp đào tạo cơ bản về kỹ năng quản lý và cả kinh doanh, chỉ điều hành doanh nghiệp theo kinh nghiệm, lao động làm việc trong các DNSVM chủ yếu là các lao động thủ công, tay nghề thấp.