CHƯƠNG I ODA VÀ VAI TRÒ CỦA ODA ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NÔNG THÔN 1. VÀI NÉT VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 1. Khái niệm Ngày nay, trên thế giới có lẽ không một quốc gia nào lại không biết đến nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Official Development Assistance viết tắt là ODA, một nguồn vốn mang lại lợi ích kinh tế cho cả người nhận lẫn người cung cấp. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới, tùy theo từng cách tiếp cận, có nhiều cách hiểu khác nhau về ODA, cụ thể như sau: Theo tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) thì “Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức là những nguồn tài chính do các Chính phủ hoặc các Tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia viện trợ cho một quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi cho quốc gia đó”.
Theo Ngân hàng thế giới thì “Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức là một bộ phận của tài chính phát triển chính thức, trong đó các khoản vay cần đạt ít nhất 25% yếu tố cho không”. Theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam thì “Hỗ trợ phát triển chính thức được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”. Như vậy, ODA được hiểu là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi của các tổ chức tài chính quốc tế (WB,ADB.), các tổ chức của hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức phi chính phủ (NGO), Chính phủ các nước (thường là các nước phát triển) dành cho Chính phủ một nước (thường là nước đang và chậm phát triển) nhằm giúp chính phủ nước đó phát triển kinh tế xã hội. SV: Trịnh Minh Tiến 6 Lớp: CQ45/08.01 Luan van Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính 1.
Đặc điểm ODA ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các cho vay ưu đãi. Do vậy, ODA có những đặc điểm chủ yếu : ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi Với mục tiêu hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển, ODA mang tính ưu đãi hơn bất kỳ hình thức tài trợ nào khác. Tính chất ưu đãi của nguồn vốn này được thể hiện qua những ưu điểm : - Lãi suất thấp: Các khoản vay ODA thường có mức lãi suất rất thấp, ví dụ như lãi suất các khoản vay ODA của Nhật Bản dao động từ 0,75 - 2,3% năm, của Ngân hàng Thế giới (WB) là 0%/năm nhưng phải trả phí dịch vụ là 0,75%/năm, mức lãi suất của Ngân hàng Phát triển Châu Á thường từ 1-1,5%/năm… - Thời hạn vay dài: Gắn với mức lãi suất tín dụng thấp, ODA có thời gian vay dài, như các khoản vay của Nhật Bản thường có thời hạn là 30 năm, Ngân hàng Thế giới (WB) là 40 năm, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) là 32 năm. - Thời gian ân hạn: Đối với ODA vay: thời gian từ khi vay đến khi phải trả vốn gốc đầu tiên tương đối dài, 10 năm đối với các khoản vay từ Nhật Bản và Ngân hàng Thế giới, 8 năm đối với Ngân hàng Phát triển Châu Á.
Nguồn vốn ODA thường đi kèm với các điều kiện ràng buộc Nhìn chung, các nước nhận viện trợ ODA đều có chính sách riêng và những quy định ràng buộc khác nhau đối với nước tiếp nhận. Họ vừa muốn đạt được ảnh hưởng về chính trị, vừa muốn đem lại một số lợi nhuận thông qua việc yêu cầu nước nhận viện trợ phải mua máy móc, thiết bị, hàng hóa hay dịch vụ của họ, thuê các chuyên gia tư vấn thiết kế từ họ.ODA luôn bị ràng buộc trực tiếp hay gián tiếp, đi kèm theo với ODA bao giờ cũng có những ràng buộc nhất định về chính trị, kinh tế hoặc khu vực địa lý. ODA có khả năng gây nợ Cần nhận thức rằng ODA có mức ưu đãi nhưng không phải vì vậy mà nó không để lại gánh nặng nợ nần. Sự ưu đãi của ODA chỉ khiến cho mức nợ nần giảm xuống và thời gian trả nợ dài ra.
Thế nhưng gánh nặng nợ của ODA thường xuất hiện sau một thời gian dài. Vấn đề khó khăn là ở chỗ ODA không SV: Trịnh Minh Tiến 7 Lớp: CQ45/08.01 Luan van Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính được đầu tư trực tiếp cho sản xuất mà là phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển y tế, văn hoá, giáo dục, là những lĩnh vực phi sản xuất vật chất nên hiệu quả nó mang lại là gián tiếp. Trong khi đó số nợ của ODA thì lại tồn tại và trực tiếp thêm vào gánh nặng nợ của nước tiếp nhận. Vì vậy việc phối hợp sử dụng ODA với các nguồn vốn khác là cực kỳ quan trọng nhằm tăng cường khả năng trả nợ, đồng thời vẫn đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội.
Phân loại ODA Theo phương thức hoàn trả - ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp ODA mà bên nhận tài trợ không phải hoàn trả cho bên tài trợ. Có thể coi ODA không hoàn lại như một nguồn thu của ngân sách Nhà nước, được sử dụng theo hình thức Nhà nước cấp phát lại cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - ODA vay ưu đãi: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền, với các điều kiện ưu đãi về lãi suất (thấp hơn lãi suất thị trường), thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, hoặc không chịu lãi vay mà chỉ chịu chi phí dịch vụ, đảm bảo Yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc. - ODA vay hỗn hợp: Là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có Yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
Theo nguồn cung cấp - ODA song phương: Là các khoản tài trợ phát triển chính thức từ nước này cho nước kia (nước phát triển cho nước đang hoặc kém phát triển) thông qua Hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ. - ODA đa phương: Là các khoản tài trợ phát triển chính thức của một số tổ chức tài chính quốc tế (IMF, WB.) và khu vực (ADB, EU.) hoặc các tổ chức phát triển của Liên hợp quốc như: (UNDP), (UNICEF), Tổ chức nông lương thế giới (FAO). Theo mục đích sử dụng - Hỗ trợ theo chương trình: Là hỗ trợ theo khuôn khổ đạt được bằng hiệp định với các nhà tài trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA trong một SV: Trịnh Minh Tiến 8 Lớp: CQ45/08.01 Luan van Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính khoảng thời gian mà không phải xác định trước một cách chính xác nó sẽ sử dụng như thế nào. Đây là loại hình ODA trong đó các bên lồng ghép một hay nhiều mục tiêu với tập hợp nhiều dự án, hay nhiều hợp phần.
- Hỗ trợ theo dự án: Là khoản hỗ trợ, trong đó nước nhận hỗ trợ phải chuẩn bị chi tiết dự án. Loại hình hỗ trợ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn ODA và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội. Trị giá vốn của các dự án đầu tư thường lớn hơn và thời gian thực hiện dài hơn các loại dự án khác. - Hỗ trợ kỹ thuật: Là loại hình thường tập trung chủ yếu vào chuyển giao kiến thức hoặc tăng cường cơ sở, lập kế hoạch, tư vấn, nghiên cứu tình hình thực tiễn, nghiên cứu tiền khả thi… 1.
NGUỒN VỐN ODA VỚI PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NÔNG THÔN 1. Vài nét về doanh nghiệp nông thôn Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao. Nó là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm bảo việc làm và đời sống cho xã hội, là thị trường cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế, nguồn nhân lực và nguồn tích lũy cho công nghiệp hóa, phát triển kinh tế. Hiện nay dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nông nghiệp ngày nay khẳng định vị trí của mình trong cơ cấu nền kinh tế.
Nó góp phần tích cực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Trước hết có thể khẳng định Việt Nam là một nước Nông nghiệp với điểm xuất phát thấp, cơ cấu nông nghiệp độc canh, đây là ngành sản xuất chủ yếu, GDP từ nông nghiệp còn lớn, trong giai đoạn 2000 đến 2008 đóng góp tới 20 % GDP quốc gia, và năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản toàn ngành đạt 15,65 tỷ USD, trong đó nông sản đạt hơn 8 tỷ USD, thủy sản đạt 4,25 tỷ USD, và lâm sản đạt 2,799 tỷ USD. Để đạt được những thành quả trên là do sự đóng góp không nhỏ của bộ phận doanh nghiệp nông thôn. Quan niệm về doanh nghiệp nông thôn Doanh nghiệp nông thôn là một khái niệm khá ở nước ta trong những năm gần đây, Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa, SV: Trịnh Minh Tiến 9 Lớp: CQ45/08.01 Luan van Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam đã diễn ra được hơn hai thập kỷ trên nhiều khía cạnh, trong đó có vấn đề tự do hóa kinh doanh. Từ một nền kinh tế với hai chủ thể chủ lực là xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã đã xuất hiện một cộng đồng doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang lớn mạnh bao gồm: hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân (căn cứ theo luật doanh nghiệp Việt Nam 2005). Theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Việt Nam, khái niệm về doanh nghiệp như sau: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh.