CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ VÀ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG TECHMART (CHỢ CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ) 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm "khoa học và công nghệ" * Khái niệm "khoa học" Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, đa dạng tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận mà biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Định nghĩa 1: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng, tự nhiên, xã hội và tư duy". "Khoản 1, Điều 3 - Luật Khoa học và công nghệ năm 2013". Định nghĩa 2: “Khoa học là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định”. Định nghĩa 3: “Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan” (Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986).
Định nghĩa 4: “Khoa học là một hoạt động nghiên cứu và kiến thức về thế giới vật lý và hành vi của nó, dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống”. - Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm “khoa học” với nội hàm được nêu trong Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 (định nghĩa 1 nêu trên) vì tính khái quát và phù hợp với quan niệm chính thống ở nước ta hiện nay. * Khái niệm " công nghệ" Công nghệ (tiếng Anh: technology) là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Công nghệ cũng có thể chỉ 12 z đến một tập hợp những công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy trình.
Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình. Thuật ngữ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể, ví dụ như "công nghệ xây dựng", "công nghệ thông tin". Thuật ngữ công nghệ xuất phát từ tiếng Hy Lạp “techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay kỹ năng, và “logia” có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu. Định nghĩa 1: Theo tác giả F.
Root, "công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới". Trong định nghĩa này, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục tiêu sử dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới. Định nghĩa 2: do tác giả R. Jones (1970) đưa ra, cho rằng "công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa".
Như vậy về bản chất, công nghệ là cách thức (cũng là kiến thức); và mục tiêu sử dụng công nghệ là để chuyển hóa nguồn lực thành hàng hóa. Định nghĩa 3: "Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh". Đây là định nghĩa của tác giả J. Baranson (1976), theo đó, bản chất của công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm.
Định nghĩa 4: "Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và marketing những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới" theo J. Trong định nghĩa này công nghệ về bản chất cũng là kiến thức và có mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất và đưa được sản phẩm ra thị trường. Các định nghĩa về công nghệ trên đây phản ánh những cách nhìn khác nhau về công nghệ của các cá nhân hoặc tổ chức khác nhau, và thường là nhằm phục vụ cho công việc và dựa vào kinh nghiệm của các tác giả/ tổ chức này. Do vậy, tuỳ theo mục đích công việc khác nhau và hoàn cảnh khác nhau mà người ta có thể 13 z thấy một định nghĩa này là phù hợp hơn một định nghĩa khác.
Điều này cũng hàm nghĩa là chúng ta không nên bám theo một định nghĩa nào đó về công nghệ, được xây dựng nhằm đáp ứng cho một loại công việc và hoàn cảnh cụ thể, để phục vụ cho mục đích khác và trong hoàn cảnh khác. Về bản chất các định nghĩa trên đây đều đề cập tới công nghệ với tư cách là tri thức cần có để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Sự khác biệt giữa các định nghĩa nằm ở chổ có coi những vật mang tri thức công nghệ như con người, tài liệu, máy móc thiết bị, sản phẩm trung gian, lao động khoa học và công nghệ nằm trong phạm trù công nghệ hay không. Ở nước ta, Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2013 đã đưa ra định nghĩa khái quát: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm (Khoản 2 Điều 3 Luật Khoa học và công nghệ năm 2013).
Định nghĩa về công nghệ này cũng phù hợp với định nghĩa được nêu trong Luật chuyển giao công nghệ, năm 2006: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Theo tác giả Luận văn, khái niệm “công nghệ” được nêu trong Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 và Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 của Việt Nam phù hợp với tinh thần chung của các định nghĩa đã được các nhà khoa học và các tổ chức quốc tế nêu trên, đồng thời sát hợp với thực tiễn ở nước ta trong giai đoạn phát triển thị trường công nghệ hiện nay khi công nghệ ngày càng được coi như một hàng hóa được giao dịch, mua bán trên thị trường. Khái niệm thị trường công nghệ Hiện nay, trong những tài liệu khác nhau, có thể thấy việc sử dụng các cụm từ khác nhau để chỉ thị trường công nghệ. Nhiều văn bản sử dụng cụm từ "Thị trường khoa học và công nghệ", trong khi một số tài liệu khác lại dùng cụm từ "Thị trường công nghệ".
Quyết định 214/2005/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề 14 z án phát triển thị trường công nghệ" sử dụng cụm từ "thị trường công nghệ". Có một số quan điểm cho rằng chỉ nên sử dụng khái niệm "Thị trường công nghệ" mà không nên dùng khái niệm "Thị trường khoa học và công nghệ", bởi trên thực tế không tồn tại thị trường khoa học. Theo quan niệm này, "Thị trường công nghệ" có thể được hiểu là những thể chế đảm bảo việc mua bán công nghệ được thực hiện trên cơ sở lợi ích các bên tham gia. Có tác giả cho rằng, theo nghĩa hẹp, thị trường công nghệ là nơi giao dịch hàng hoá công nghệ.
Còn theo nghĩa rộng thì thị trường là tổng hoà các mối quan hệ trao đổi mua bán, môi giới, giám định, thưởng phạt, khiếu kiện giữa các bên giao dịch công nghệ. Có thể thấy rằng, trong thị trường công nghệ theo nghĩa rộng, không chỉ có công nghệ là hàng hoá để trao đổi mua bán mà có thể có cả tri thức, thông tin KH&CN cũng có thể được trao đổi như những hàng hoá công nghệ đặc biệt. Như vậy, khái niệm "Thị trường công nghệ" sẽ bao quát rộng hơn. Nó bao quát cả thị trường thông tin, tri thức, dịch vụ và lao động KH&CN chứ không chỉ thuần tuý là việc mua bán, chuyển giao công nghệ.
Từ những lý giải trên, khái niệm "Thị trường công nghệ" có thể được hiểu là những thể chế đảm bảo việc mua bán sản phẩm, kết quả, dịch vụ, tri thức và thông tin KH&CN trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia. TTCN là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi hàng hoá "đặc biệt" là các sản phẩm công nghệ để phát triển KT-XH. TTCN được hình thành trên cơ sở các điều kiện: Có hàng hoá công nghệ; Có quan hệ cung - cầu về hàng hoá công nghệ; Có phương tiện thanh toán; Có các quy định, quy chế, thể thức điều tiết các quá trình mua - bán hàng hoá công nghệ. TTCN là một phân khúc của hệ thống thị trường chung.
* Thành phần của thị trường công nghệ Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, để thị trường công nghệ vận hành được cần có ít nhất bốn thành phần cơ bản là: (1) Hàng hoá công nghệ, (2) Bên cung và bên cầu, (3) Các tổ chức môi giới, trung gian, dịch vụ, tài chính và (4) Khuôn khổ pháp lý. 15 z Một số nghiên cứu về thị trường công nghệ cho thấy trong thị trường công nghệ có những dạng hàng hoá cơ bản được lưu thông như : Sáng chế và giải pháp hữu ích, Thiết bị có chứa đựng công nghệ, công nghệ thuần tuý (như quy trình, bí quyết bản vẽ, mô tả,.), dịch vụ kỹ thuật nói chung, dịch vụ nghiên cứu và phát triển thị trường thương mại, thông tin KHCN và tri thức, hàng hoá công nghệ khác". [1] Hàng hoá trong thị trường công nghệ được coi là hàng hoá đặc biệt. Do những đặc điểm của hàng hoá công nghệ nên thị trường công nghệ không thể vận hành đơn giản và tương tự như thị trường hàng hoá nói chung.
Để hàng hoá trên thị trường công nghệ lưu thông một cách thuận lợi cần có sự tham gia tích cực của bên cung, bên cầu và các bên trung gian, môi giới. Thành phần quan trọng thứ hai trong thị trường công nghệ là bên cung và bên cầu. Các nhà cung cấp hàng hoá công nghệ có thể là Nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức KHCN (bao gồm các tổ chức nghiên cứu và phát triển - NC&PT, các trường đại học - học viện, các tổ chức dịch vụ KH&CN, các nhà phát triển công nghệ độc lập. Có những nhà cung cấp công nghệ thực hiện việc phát triển công nghệ để phục vụ cho chính nhu cầu phát triển của mình và bán các hàng hoá công nghệ đó như một dẫn xuất của việc tạo ra các hàng hoá công nghệ để bán.
Bên có nhu cầu về công nghệ có thể là Nhà nước, các doanh nghiệp, các trường đại học, các cá nhân, nông dân,.