Mở đầu Giới thiệu về tính cấp thiết của đề tài và sự cần thiết nghiên cứu của đề tài, nêu lên mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày một cách tổng quan những khái niệm về tín dụng ngân hàng, rủi ro tín dụng và quy trình cho vay DNVVN cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của DNVVN. Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Trình bày thiết kế nghiên cứu, mẫu nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu, các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu cùng các kiểm định của mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Kết quả phân tích dựa trên số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp điều tra trực tiếp tại địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trên cơ sở đó phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của DNVVN. Chương 5: Kết luận và các gợi ý chính sách Tóm tắt kết quả chính của nghiên cứu, gợi ý các chính sách đối với các bên có liên quan, đồng thời cũng trình bày những hạn chế chưa đạt được để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. Luan van 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa hay còn gọi là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Tại Việt Nam, theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính Phủ, Doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa như sau: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Luan van 10 Bảng 2.1: Phân loại DNNVV tại Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Tổng Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực nguồn vốn động nguồn vốn động nguồn vốn động I. Nông, lâm từ trên từ trên 3 từ trên từ trên 20 nghiệp, thủy 10 người 100 3 tỷ đồng tỷ đồng 10 người tỷ đồng sản, công trở người trở xuống đến 20 tỷ đến 100 đến 100 tỷ nghiệp và xây xuống đến 200 đồng người đồng dựng người từ trên 3 từ trên từ trên 50 từ trên 50 10 người II. Thương 3 tỷ đồng tỷ đồng 10 người tỷ đồng người trở mại và dịch vụ trở xuống đến 50 tỷ đến 50 đến 100 tỷ đến 100 xuống đồng người đồng người Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP Ở nước ta, hiện nay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp và là khu vực yếu thế, dễ bị tổn thương trong nền kinh tế thị trường, nhưng lại là khu vực tạo nhiều nhất việc làm cho người lao động, huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển trên tất cả các lĩnh vực và địa bàn, có đóng góp quan trọng trong việc bảo đảm an sinh xã hội.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 2. Đặc điểm về hoạt động DNNVV đặc điểm hoạt động đa dạng về ngành nghề. Các DN tham gia kinh doanh ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế với các sản phẩm đa dạng nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều cùng miền khác nhau. Quy mô DNNVV thường không lớn.
Số lượng lao động trong một DNNVV cũng không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt. Mối quan hệ giữa người chủ DN và người lao động khá gắn bó so với các công ty có quy mô lớn. Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp. Luan van 11 DNVV có lợi thế về vốn đầu tư ít và nguồn lao động dồi dào nên DNNVV có tốc độ phát triển nhanh và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số DN.
DNNVV cung cấp cho thị trường nhiều mặt hàng/dịch vụ phong phú, đa dạng ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, tạo ra đa dạng sự lựa chọn, đáp ứng được nhu cầu phong phú của người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế. Đặc điểm về tổ chức, quản lý DNNVV dễ dàng và thành lập với các thủ tục không quá phức tạp: Để thành lập một DNNVV chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu, mặt bằng sản xuất, quy mô nhà xưởng vừa đủ. Các DNNVV thường linh hoạt trong việc học hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại to lớn do các tác động khách quan của môi trường bên ngoài. DNNVV thường gặp khó khăn trong việc thu hút các nhà quản lý và lao động giỏi: lý do quy mô SX không lớn, tình trạng tài chính hạn chế và sản phẩm tiêu thụ không nhiều, DNNVV sẽ gặp khó khăn trong việc trả lương cao cho các nhà quản lý, đặc biệt là tìm kiếm nhân tài trong việc điều hành và quản lý DN.
Trình độ quản lý của chủ DN thấp. Đa phần các chủ DNNVV có trình độ học vấn thấp. Ngay cả những chủ DN có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo bài bản về kiến thức kinh tế và quản trị DN, luật kinh doan., điều này cxung một phần ảnh hưởng đến việc lập chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh của DN. Lực lượng lao động trong các DNNVV đa số chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật; các DN chưa thực hiện đầy đủ các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đã làm giảm đi chất lượng công việc trong khu vực DNNVV.
Văn hóa trong các DNNVV chưa được chú trọng: các DNNVV do số lượng lao động và quy mô hoạt động kinh doanh nhỏ nên vấn đề xây dựng văn hóa DN ít được chú trọng, thậm chí không cần thiết đối với chủ DNNVV. Đặc điểm về tài chính DNNVV chủ yếu là hoạt động kinh doanh thuộc khu vực kinh tế tư nhân. DNNVV có nguồn vốn kinh doanh ít nên việc đầu tư vào các TSCĐ cũng ít, do vậy các DN có thể dễ dàng trong việc đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Bên Luan van 12 cạnh đó, DNNVV tận dụng được nguồn lao động dồi dào để thay thế vốn.
Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các DNNVV có thể đạt được hiệu quả KT - XH cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế. Tuy nhiên, do quy mô vốn thấp nên DNNVV có những bất lợi trong việc tiếp cận các nguồn vốn ngân hàng: Vốn chủ sở hữu ít, do đó tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên vốn vay thấp nên khả năng vay vốn của DN từ đó cũng rất hạn chế. Các DNNVV thường thiếu tài sản thế chấp/Tài sản đảm bảo cho khoản tiền mà DN dự định vay. Với DNNVV thì đơn vị kế toán và tài chính thường có trình độ chuyên môn thấp, thường kiêm nhiệm.
DN không thực hiện đầy đủ các nội dung quản lý tài chính dẫn đến tình trạng quản lý kém và hiệu quả hoạt động không tốt. Các hạn chế trong quản lý tài chính là một trong các nguyên nhân khiến hầu hết các DNVVN rất khó nhận được các khoản vay từ ngân hàng. Nhìn chung, các DNNVV bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ sản xuất. Sự khan hiếm về nguồn lực này là do đặc điểm và nguồn gốc hình thành DN.
Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích luỹ vốn thường đóng vai trò quyết định của từng DNNVV. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV tuy là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động và doanh thu, nhưng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế do chiếm một tỷ trọng lớn. Ở Việt Nam, DNNVV chiếm khoảng 98% trong tổng số doanh nghiệp đăng ký. Vì vậy, DNNVV đóng góp một phần đáng kể vào tổng sản lượng và tạo công ăn, việc làm cho người dân.
Những nét cơ bản về vai trò của DNNVV cụ thể như sau: - Các DNNVV cung cấp một lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đáng kể cho nền kinh tế. - DNNVV góp phần tạo việc làm và thu nhập cho người lao động Luan van 13 - Các hoạt động của DNNVV góp phần làm cho nền kinh tế năng động, đạt hiệu quả cao. - DNNVV có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác thế mạnh và tiềm năng của từng vùng. - Các DNNVV tạo được mối liên kết chặt chẽ với các công ty nhà nước, các tập đoàn xuyên quốc gia.
Tổng quan về tín dụng 2. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi (Wikipedia).
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác (TCTD), với các nhà doanh nghiệp và cá nhân (bên đi vay), trong đó các TCTD chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho TCTD khi đến hạn thanh toán (Wikipedia). Phân loại tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế hiện đại, hoạt động cho vay có phạm vi hoạt động rộng lớn và đa dạng.