Chương 1 đã trình bày tổng quan về dịch vụ kế toán tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm đánh giá chất lượng dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này tại Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu được dùng làm cơ sở đưa ra kiến nghị giúp nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán tại Lâm Đồng. 5 2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LÝ LUẬN 2.1 Chất lượng dịch vụ Theo hiệp hội Chất lượng Hoa kỳ (ASQ) chất lượng là toàn bộ các tính năng, và đặc điểm mà một sản phẩm/dịch vụ đem lại nhằm đáp ứng những nhu cầu đặt ra từ khách hàng.
Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi sử dụng qua dịch vụ. Theo Phillip Kotler và cộng sự (2005), chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa, và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện chức năng của nó.2 Định nghĩa sự hài lòng Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng. Theo Fornell (1995) sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng, được định nghĩa như là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trước khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó. Hoyer và MacInnis (2001) cho rằng sự hài lòng có thể gắn liền với cảm giác chấp nhận, hạnh phúc, giúp đỡ, phấn khích, vui sướng.
Theo Hansemark và Albinsson (2004), “Sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn”. Theo Zeithaml & Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ. 6 Kotler (2000), định nghĩa “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng Gummesson (1992) cho rằng “nếu một người không hiểu chất lượng dịch vụ là gì thì không thể thiết lập được nó, không thể đo lường được nó. Cũng không thể đặt những câu hỏi hợp lý hoặc lý giải các câu trả lời và biến chúng thành hành động”.
Parasuraman & cộng sự (1993), cho rằng giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng tồn tại một số khác biệt, mà điểm khác biệt là vấn đề “nhân quả”. Còn Zeithalm & Bitner thì cho rằng sự hài lòng của khách hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như sản phẩm, chất lượng dịch vụ, giá cả, yếu tố tình huống, yếu tố cá nhân. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ. Các nghiên cứu trước đây cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự hài lòng (Cronin & Taylor, 1992; Spreng & Taylor, 1996).
Lý do là chất lượng dịch vụ liên quan đến việc cung cấp dịch vụ còn sự hài lòng chỉ được đánh giá sau khi đã sử dụng dịch vụ đó. Sự hài lòng của khách hàng xem như là kết quả, chất lượng dịch vụ xem như là nguyên nhân, hài lòng có tính dự báo và mong đợi, chất lượng dịch vụ là một chuẩn lý tưởng. Sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát, thể hiện sự hài lòng của họ khi sử dụng một dịch vụ. Trong khi đó chất lượng dịch vụ chỉ tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ (Zeithalm & Bitner 2000).
Tuy giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có mối liên hệ với nhau nhưng có ít nghiên cứu tập trung vào việc kiểm định mức độ giải thích của các thành phần của chất lượng dịch vụ đối với sự hài lòng đặc biệt đối với từng ngành dịch vụ cụ thể (Lassar & cộng sự, 2000). Cronin & Taylor đã kiểm định mối quan hệ này và kết luận cảm nhận chất lượng dịch vụ dẫn đến sự thỏa mãn của khách hàng. Các nghiên 7 cứu đã kết luận chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng (Cron & Taylor, 1992) và là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự thỏa mãn (Ruyter; Bloemer, 1997) 2.4 Giá Giá được định nghĩa là những gì được đưa ra hoặc hy sinh để có được một sản phẩm hoặc dịch vụ từ quan điểm của người tiêu dùng Zeithaml (1988). Các nghiên cứu thực nghiệm đã đưa ra nhiều kết quả khác nhau về mối quan hệ giữa giá và chất lượng dịch vụ.
Peterson và Wilson (1985) kết luận rằng mối quan hệ giữa giá và chất lượng không khái quát và không phải lúc nào mối quan hệ này cũng tích cực. Một mối quan hệ giá, chất lượng dịch vụ tích cực dường như tồn tại trong một số kết quả thực nghiệm Monroe và Krishnan (1985); Dodds, Monroe, và Grewal (1991); Tear và Agarwal (2000). Dựa trên mô hình khái niệm chất lượng dịch vụ đề xuất bởi Parasuraman et al. (1985), sự khác nhau giữa cung cấp dịch vụ và truyền thông bên ngoài ảnh hưởng Provider Gap.
Zeithaml và Bitner (2000) đã nói, "một trong những loại truyền thông quan trọng của dịch vụ bên ngoài là giá của dịch vụ". Ngoài ra, khách hàng có thể phụ thuộc vào giá như để ám chỉ chất lượng và bởi vì giá kỳ vọng về chất lượng, do đó giá dịch vụ phải được xem xét. Mặt khác, tác động của mức giá lên sự hài lòng đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu ít hơn nhiều so với vai trò của kỳ vọng và biểu hiện nhận thức Spreng, Dixon và Olshavsky (1993). Nhận thức về giá sau khi mua có ảnh hưởng tích cực, có ý nghĩa đối với sự hài lòng của Voss, Parasuraman, và Grewal (1998).
Zeithaml và Bitner (2000) tranh luận, "giá của dịch vụ có thể ảnh hưởng lớn đến nhận thức về chất lượng, sự hài lòng và giá trị. Bởi vì các dịch vụ là vô hình và thường khó phán đoán trước khi mua, giá thường được đưa vào như là một chỉ số đại diện sẽ ảnh hưởng đến sự mong đợi và nhận thức về chất lượng. Một số nhà nghiên cứu lập luận rằng sự hài lòng của khách hàng với đội ngũ kiểm toán có liên quan một cách tích cực với giá Behn và cộng sự, (1999).5 Hình ảnh Công ty Hình ảnh công ty được định nghĩa là nhận thức của một công ty được phản ánh trong các liên kết được tổ chức trong bộ nhớ người tiêu dùng Keller (1993). Gronroos (1990) lập luận rằng một hình ảnh thuận lợi và nổi tiếng là một tài sản cho bất kỳ tổ chức nào bởi vì hình ảnh có thể ảnh hưởng đến nhận thức về chất lượng, giá trị và sự hài lòng.
Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh hình ảnh công ty ảnh hưởng đến nhận thức về chất lượng cũng như sự hài lòng và lòng trung thành Andreessen & Lindestand (1998). Zeithaml và Bitner (2000) lập luận rằng hình ảnh công ty sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của khách hàng về các hoạt động của công ty dịch vụ và sẽ được tăng cường bởi kinh nghiệm thực tế để củng cố hình ảnh mong muốn. Một số nhà nghiên cứu cũng đề cập rằng 14 hình ảnh gần đây của công ty sẽ bị ảnh hưởng hơn bởi khách hàng, hoặc sự hài lòng của khách hàng Johnson, Fornell, Andreessen, Lervik và Cha (2001) 2.6 Dịch vụ chuyên nghiệp 2.1 Dịch vụ chuyên nghiệp là gì? Theo Crane (1993), không có một định nghĩa chung nào được chấp nhận về những gì được cấu thành nên sự chuyên nghiệp hay dịch vụ chuyên nghiệp mà có sẵn trong các lý thuyết có liên quan. Dịch vụ chuyên nghiệp có thể được xem như là sự cung cấp dịch vụ của một hoặc nhiều người có hiểu biết trong một lĩnh vực hoặc đòi hỏi bởi quá trình đào tạo và có kỹ năng áp dụng hiểu biết vào thực tế (Mills and Morris, 1986).
Theo Gummesson (1978), dịch vụ chuyên nghiệp có thể xác định dựa vào 4 tiêu chí sau đây: 1. Dịch vụ phải được cung cấp bởi cá nhân có chuyên môn được biết đến với những kiến thức cụ thể của họ 2. Nó nên được tư vấn và tập trung trong việc giải quyết vấn đề 9 3. Chuyên nghiệp phải có được sự thống nhất 4.
Dịch vụ nên được chuyển hóa từ người mua sang người bán Để phân chia ranh giới giữa dịch vụ chuyên nghiệp là gì và những gì không phải dịch vụ chuyên nghiệp thì không khó cho một số loại dịch vụ. Ví dụ: Turnbull and Moustakatos (1996) phân loại dịch vụ đầu tư ngân hàng như là một loại của dịch vụ chuyên nghiệp. Halinen (1996) các công ty liên quan đến quảng cáo như là người cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp. Theo truyền thống, một sự chuyên nghiệp liên quan đến một lĩnh vực yêu cầu một cá nhân phải có chứng nhận liên quan và làm việc với một số đạo đức.
Yorke (1990) tóm tắt các nghiên cứu trước đây về dịch vụ chuyên nghiệp và đưa ra một số gợi ý ngắn gọn về tiêu chí mà dịch vụ chuyên nghiệp có thể được phân biệt từ những dịch vụ khác như sau: 1. Chất lượng dịch vụ được tư vấn và tập trung vào việc giải quyết vấn đề. Chúng được cung cấp bởi một cá nhân độc lập và có trình độ nhất định về một kỹ năng chuyên môn. Phạm vi công việc được tập trung vào nhiệm vụ được yêu cầu.
Việc thực hiện sự chuyên nghiệp được quy định bởi hiệp hội, được đặt ra các yêu cầu về năng lực và để thực thi các nguyên tắc đạo đức.2 Kế toán Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động (Theo Luật kế toán 2003).3 Dịch vụ kế toán Kinh doanh dịch vụ kế toán là việc cung cấp dịch vụ làm kế toán, làm kế toán trưởng, lập báo cáo tài chính, tư vấn kế toán và các công việc khác thuộc nội dung công tác kế toán cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu.7 Doanh nghiệp vừa và nhỏ là gì?