CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH 1. Nguồn nhân lực tại các Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm nguồn nhân lực "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc nhìn cũng khác nhau Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” Theo Nicolas Herry (Quản trị công và vấn đề công) thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức(với quy mô, loại hình và chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, khu vực đó” Theo PGS.TS Phạm Văn Đức thì: “Nguồn nhân lực con người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động, đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động ” Theo GS.TS Phạm Minh Hạc Bộ trưởng Bộ giáo dục 1987-1990 thì: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có 7 kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” Như vậy thống nhất với các khái niệm về nguồn nhân lực ở trên Nguồn nhân lực trong luận văn được định nghĩa: “Nguồn nhân lực là tổng thể lao động trong các tổ chức và doanh nghiệp; với sức lao động, kỹ năng chuyên môn và khả năng học tập, có thể huy động nguồn nhân lực vào phục vụ quá trình phát triển của tổ chức, doanh nghiệp hay của toàn xã hội” Định nghĩa này đã xem xét Nguồn nhân lực là một bộ phận lao động quan trọng trong các tổ chức hay doanh nghiệp của xã hội với số lượng nhất định tại mỗi thời điểm và có thể nghiên cứu hay quản lý được, thứ hai định nghĩa cũng chỉ ra các thuộc tính cơ bản tổng hợp của nguồn nhân lực như Sức lao động, Kỹ năng chuyên môn và khả năng học tập sáng tạo của nhân lực; Sức lao động là thể lực là trạng thái sức khỏe và tính sẵn sàng của nhân lực; Khả năng chuyên môn là năng lực và kỹ năng đã qua đào tạo của nhân lực, kỹ năng chuyên môn là để đáp ứng các công việc đòi hỏi khả năng xử lý có độ phức tạp cao; Khả năng học tập sáng tạo trong lao động thể hiện nhân lực có yếu tố tự vận động và phát triển bên trong, thông qua học tập sáng tạo để phát triển không ngừng và ngày càng hoàn thiện hơn. Tất cả các tiêu chí trên tạo nên tính sẵn sàng của nguồn nhân lực nhưng đó mới chỉ là nguồn lực tĩnh, để trở thành nguồn lực thực sự thì nguồn lực tĩnh này phải chuyển hóa dần qua quá trình lao động sáng tạo để tạo ra của cải vật chất cho xã hội thông qua các hoạt động của tổ chức và doanh nghiệp được thực hiện. Với định nghĩa trên ta đã có bức tranh cụ thể rõ ràng hơn về nguồn nhân lực trong các tổ chức và doanh nghiệp, đối với các tổ chức và doanh nghiệp phải lấy nhiệm vụ phát huy và phát triển nguồn nhân lực làm động lực. Đặc điểm nguồn nhân lực của Doanh nghiệp nhỏ và vừa Nguồn nhân lực của DNNVV cũng mang đặc điểm của DNNVV khi quy mô chưa lớn và chưa hiệu quả là luôn có số lượng nhỏ và kỹ năng, tuy nhiên do số lượng DNNVV là rất lớn và chiếm số đông nên nguồn nhân lực này vẫn rất lớn, DNNVV cũng hoạt động hết sức đa dạng ở hầu hết các ngành nghề kinh tế ; tổng chung lại thì nguồn nhân lực của toàn bộ DNNVV là rất lớn và có sự đa dạng cao về kỹ năng chuyên môn.
Ngoài ra sự biến động của DNNVV là rất lớn nên thay đổi của nguồn nhân lực DNNVV cũng luôn có sự biến động lớn, đây là đặc điểm quan trọng cần lưu ý trong quản lý và điều hành về nguồn nhân lực cho DNNVV để tạo ra được sự ổn định về nguồn nhân lực này. Nguồn nhân lực của DNNVV là một bộ phận của nguồn nhân lực trong xã hội cũng có đặc điểm vận hành theo các quy luật của xã hội như quy luật cung cầu. DNNVV có nhu cầu sử dụng sức lao động của người lao động và người lao động cũng có nhu cầu làm việc và bỏ ra sức lao động và bán cho Doanh nghiệp, người lao động là bên cung, còn doanh nghiệp là bên cầu hai quan hệ này luôn đối ngược nhau phải điều tiết. Do quan điểm sức lao động như một hàng hóa hóa đặc biệt và là đầu vào của sản xuất vì vậy mà nguồn nhân lực phải có giá trị trao đổi sử dụng, giá trị trao đổi sử dụng ở đây là trí lực và sức lực có thể trao đổi được và đưa vào được trong hoạt động của DNNVV khi có nhu cầu sử dụng.
Tất cả các quan hệ kinh tế này phải đảm bảo quyền lợi hợp pháp của DNNVV Trong nền kinh tế thị trường để DNNVV thúc đẩy sự phát triển, cần phải có sự lưu chuyển tự do nguồn nhân lực mới mang lại hiệu quả cao nhất cho thị trường. Do đặc điểm của kinh tế thị trường cũng cần đảm bảo điều tiết hợp lý nhất nguồn nhân lực để mang lại sự phát triển ổn định của thị trường lao động, đặc biệt khi DNNVV luôn có sự biến động lớn về nguồn nhân lực 9 Nếu nhìn ở góc độ xã hội thì nguồn nhân lực trong DNNVV là một bộ phận của xã hội mang những đặc điểm của xã hội, Nguồn nhân lực là một bộ phận đặc biệt của xã hội đang góp phần xây dựng và phát triển xã hội ngày một phát triển đi lên. Nguồn nhân lực này có tham gia vào các chức năng của xã hội và được đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ đối tương ứng với xã hội. Vì có đặc điểm xã hội nên nguồn nhân lực DNNVV cũng mang trong mình các thuộc tính tri thức văn hóa của xã hội hay các đặc điểm riêng khác.
Nguồn nhân lực sau quá trình lao động đến tuổi nghỉ hưu cũng cần được đảm bảo các trợ cấp xã hội từ quỹ bảo hiểm xã hội để không trở thành gánh nặng cho xã hội ở tương lai. Vì vậy phải có sự hoạch định về quyền lợi của người lao động về lâu dài. Với góc nhìn kinh tế thì cần phải đảm bảo hiệu quả và toàn dụng về nguồn nhân lực trong DNNVV, còn đối với góc nhìn xã hội phải đảm bảo vấn đề an sinh xã hội với nguồn nhân lực. Yêu cầu đối với nguồn nhân lực của Doanh nghiệp nhỏ và vừa Để DNNVV hoạt động sản xuất kinh doanh thông suốt nhịp nhàng cần phải có một lực lượng dồi dào về Nguồn nhân lực, để sản xuất một đơn vị sản phẩm hàng hóa là phải sử dụng một số lượng nhân lực lao động tham gia vào quá trình này.
Có thể nói yêu cầu đầu tiên của DNNVV là phải đảm bảo tối thiểu đủ số lượng lao động trong nguồn nhân lực để doanh nghiệp vận hành và hoạt động được. Tuy nhiên DNNVV với nguồn lực hạn hẹp không thể lúc nào cũng duy trì nguồn nhân lực dồi dào được như các doanh nghiệp lớn vì vậy DNNVV cũng có nhu cầu lớn có thể tuyển dụng đủ số lượng lao động trên thị trường bổ sung vào nguồn nhân lực của doanh nghiệp khi cần. Vì vậy DNNVV có yêu cầu phái sinh về một thị trường lao động hiệu quả dễ tuyển dụng được số lượng như ý của doanh nghiệp. DNNVV cũng luôn đòi hỏi chất lượng cao của NNL để phục vụ cho quá trình phát triển và cạnh tranh của doanh nghiệp, không chỉ sử dụng các 10 lao động phổ thông có trình độ thấp DNNVV hiện nay DNNVV cũng cần sử dụng các nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao để cải tiến và hoàn thiện sản phẩm dịch vụ để phát triển.
Yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao mới có khả năng để phát triển sản phẩm dịch vụ và giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên đây luôn là bài toán khó đối với DNNVV với nguồn lực hữu hạn và môi trường kém hấp dẫn với lao động có trình độ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực Doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền cấp Tỉnh 1. Khái niệm hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực Doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền cấp tỉnh Hiện nay chưa có một định nghĩa cụ thể nào về hỗ trợ phát triển DNNVV của chính quyền cấp tỉnh.
Các khái niệm về phát triển nguồn nhân lực cũng rất đa dạng với các mục tiêu khác nhau, các khái niệm quan trọng như: o Nadler định nghĩa “phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc” tác giả này cho rằng phát triển nguồn nhân lực với giáo dục đào tạo có cùng nội hàm o Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”. o Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP cho rằng: "Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của năm nhân tố: giáo dục - đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người. Trong 11 quá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó, giáo dục - đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác.