CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬN ÁN 1. Lý do lựa chọn đề tài Khoảng trống lý luận: Thông tin về khách hàng luôn là dữ liệu đầu vào quan trọng cho ngành ngân hàng. Hiện nay, các ngân hàng đang phải đối mặt với vấn đề bất cân xứng thông tin vì người vay cung cấp thông tin thiếu tin cậy và minh bạch (dữ liệu trên báo cáo tài chính và phi tài chính). Việc cung cấp thông tin không trung thực làm thay đổi xếp hạng tín nhiệm người vay, giúp khách hàng tiếp cận khoản vay dễ dàng hơn, tuy nhiên các ngân hàng xảy ra sự lựa chọn đối nghịch là nền tảng hình thành nên rủi ro tín dụng và nợ xấu.
Trong quá trình thu thập và xử lý dữ liệu tín dụng nhóm khách hàng doanh nghiệp thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được đánh giá là thiếu tin cậy và minh bạch nhất, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển với tình trạng bất cân xứng thông tin xảy ra nghiêm trọng. Để giải quyết tình trạng bất cân xứng thông tin, hệ thống ngân hàng đã xây dựng quy trình xếp hạng tín nhiệm khách hàng dựa trên thu thập và xử lý dữ liệu 2 loại thông tin: thông tin cứng (được định nghĩa là thông tin bên ngoài, dựa trên các báo cáo tài chính, lịch sử tín dụng, đánh giá, tính điểm tín dụng… (Feldman,R,1997a, Berger et al 2002và Frame et al 2001)) và thông tin mềm (được định nghĩa là thông tin nội bộ, thông qua mối quan hệ giữa người vay và ngân hàng, là phán xét, quan điểm cá nhân, niềm tin vào khách hàng, sự trung thực trong cung cấp thông tin. Có nghĩa là quyết định cho vay của ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi: thông tin cứng và thông tin mềm. Berger, Allan and Lamont Black (2011), các NHTM tại Hoa Kỳ áp dụng nhiều loại hình cho vay, tùy thuộc lợi thế của ngân hàng về thông tin cứng hoặc thông tin mềm, trong đó ngân hàng nhỏ cấp địa phương có lợi thế chủ yếu về thu thập thông tin mềm được gọi là thông tin định tính hoặc thông tin phi báo cáo tài chính (mỗi cán bộ tín dụng phụ trách hỗ trợ một nhóm khách hàng, đánh giá thường xuyên về tình hình tài chính, mối quan hệ với chính quyền địa phương, theo dõi số dư trên tài khoản,…), các ngân hàng lớn chi nhánh trải rộng có lợi thế chủ yếu về thu thập thông tin cứng được gọi là thông tin định lượng hay gọi là thông tin dựa trên các báo cáo tài chính (ngân hàng sử dụng công nghệ đánh giá, phân tích dữ liệu và chấm điểm tín dụng dựa trên các báo cáo tài chính được kiểm toán của khách hàng).
2 Về tầm quan trọng của hai loại thông tin đến quyết định cho vay chưa được khẳng định rõ ràng ở các nghiên cứu trước, đặc biệt là vai trò của thông tin mềm ảnh hưởng đến quyết định cho vay như: mạng lưới vốn xã hội của doanh nghiệp, niềm tin của ngân hàng vào năng lực và đạo đức doanh nhân,.đặc biệt là thông tin mềm được đánh giá chủ quan bởi chính cán bộ tín dụng trực tiếp thu thập, xử lý và đưa ra quyết định cho vay hoặc từ chối. Đây là khoảng trống nghiên cứu rất thú vị và có ý nghĩa quan trọng đối với chính sách quản lý tín dụng của ngân hàng, chính sách huy động vốn tín dụng chính thức của khách hàng doanh nghiệp. Khoảng trống thực trạng: Năm 2019, trong 6.202 DNNVV tiểu vùng Tây Bắc có trên 30% số DN đang thiếu vốn trầm trọng nhưng không tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng bởi nguyên nhân: Báo cáo tài chính chưa được kiểm toán, doanh nghiệp yếu về tài sản đảm bảo, hiệu quả tài chính thấp, lợi nhuận các năm gần đây sụt giảm theo xu thế toàn cầu. có nghĩa là DNNVV không đáp ứng được các yêu cầu về thông tin cứng mà ngân hàng đặt ra.
Bên cạnh các thông tin cứng, cán bộ tín dụng ngân hàng còn xem xét tới các thông tin mềm khi đưa ra quyết định cho vay như: niềm tin vào năng lực và đạo đức của chủ doanh nghiệp, sự tham gia mạng lưới mối quan hệ xã hội của doanh nghiệp, doanh nghiệp có những mối quan hệ đặc biệt nào với ngân hàng hoặc chính quyền địa phương?. Những nhân tố này có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định tín dụng nhưng hiện tại chưa được phản ánh trong các chính sách tín dụng ngân hàng và doanh nghiệp tiểu vùng Tây Bắc. Xuất phát từ khoảng trống lý luận về đánh giá tầm quan trọng của thông tin cứng - thông tin mềm đến quyết định cho vay DNNVV; và khoảng trống thực trạng DNNVV chưa đáp ứng đủ và đúng các yêu cầu NHTM đưa ra, đặc biệt là các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay chưa được cụ thể hóa trong chính sách tín dụng của NHTM và DNNVV tiểu vùng Tây Bắc, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại khu vực Tây Bắc Việt Nam” là đề tài luận án của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Xếp hạng tín dụng bắt nguồn từ Hoa Kỳ trong thế kỷ XIX, dựa vào thông tin mềm được tích lũy theo thời gian và thông qua các tương tác cá nhân lặp đi lặp lại để đưa ra quyết định tín dụng của họ (Carruthers và Cohen 2001, 2009).
Sự phát triển của nền hàng hóa dẫn đến một thị trường rộng lớn vượt qua phạm vi địa phương tạo ra nhu 3 cầu về các nguồn thông tin tín dụng không dựa vào các kết nối cá nhân trực tiếp. Điều này dẫn đến sự hình thành của các công ty như Cơ quan Mercantile, R. Dun và Bradstreets vào những năm 1840. Các công ty này cung cấp các xếp hạng chính xác, được tiêu chuẩn hóa, cho phép các thương nhân tránh mở rộng tín dụng cho các khách hàng không xứng đáng với tín dụng.
Các văn phòng xếp hạng tín dụng đã thành lập các văn phòng địa phương tại các thành phố lớn và dựa vào các thương nhân, luật sư hoặc nhân viên ngân hàng địa phương làm nguồn tích lũy thông tin. Đầu vào của quy trình là thông tin mềm, là cơ sở của các quyết định tín dụng cấp địa phương. Các cơ quan tín dụng đã sử dụng thông tin này để tạo hai điểm tín dụng: lợi nhuận ròng và khả năng trả nợ của khách hàng. Bằng cách này, thông tin mềm đã được chuyển hóa thành thông tin cứng cho các thương nhân địa phương và cung cấp nó dưới dạng hữu ích cho các thương nhân ở xa trong việc ra quyết định cho vay.
Như vậy, có thể thấy rằng: việc phân loại thông tin, chuyển hóa thông tin mềm thành thông tin cứng và ứng dụng thông tin trong các quyết định cho vay đã được nghiên cứu, kế thừa và phát triển rất phong phú. Khái niệm và phân loại thông tin cứng - thông tin mềm Khái niệm thông tin cứng và thông tin mềm đã được phát triển rộng rãi trong các tài liệu kinh tế tổ chức (Degryse et al,2013; Saengchote, Kanis,2013; Qian et al,2010; Petersen, 2004). Sự khác biệt giữa thông tin cứng và thông tin mềm không được nêu rõ ràng, chưa nhất quán và định nghĩa không đầy đủ. Kirschenheiter (2002) đề xuất định nghĩa thông tin cứng và mềm trong khuôn khổ kế toán như sau: Thông tin cứng là khi mọi người toàn toàn đồng ý về ý nghĩa của nó (…) khi xảy ra bất đồng trong diễn giải thông tin, tức là diễn giải thông tin khác nhau chính là thông tin mềm.
Theo nghiên cứu của Petersen (2004): thông tin cứng chính là thông tin định lượng - Số điện tử Số (trong tài chính là dữ liệu bảng cân đối, lợi nhuận, tài sản…) thông tin mềm là thông tin định tính, lời nói (ý kiến, ý tưởng, dự án, ý kiến .); thông tin cứng xu hướng lạc hậu về hướng tìm kiếm (ví dụ: dữ liệu bảng cân đối kế toán), thông tin mềm xu hướng dự báo tương lai (ví dụ: kế hoạch kinh doanh). Thông tin cứng hầu như luôn được ghi lại dưới dạng số. Do đó, trong tài chính, thông tin cứng được đại diện bởi báo cáo tài chính, lịch sử thanh toán được thực hiện đúng hạn, lợi nhuận cổ phiếu…là thông tin cứng. Thông tin mềm thường được truyền đạt trong văn bản.
Nó bao gồm ý kiến, ý tưởng, tin đồn, dự đoán kinh tế, tuyên bố của ban quản lý kế hoạch tương lai và bình luận thị trường. Thực tế là thông tin cứng là định lượng có nghĩa là nó có thể dễ dàng được thu thập, lưu trữ và truyền đi dưới dạng điện tử. Đây là lý do tại sao sự ra đời của máy tính, chương trình cơ sở dữ liệu lớn và mạng đã trở thành một lợi ích cho các công nghệ sản xuất dựa trên thông tin cứng (ví dụ: cho vay định lượng và giao dịch định lượng). 4 Khía cạnh thứ hai phân loại thông tin cứng và thông tin mềm và cách thức mà thông tin được thu thập.
Phương pháp thu thập thông tin cứng không cần phải là cá nhân. Thay vào đó, thông tin được nhập vào một biểu mẫu mà không cần sự hỗ trợ hoặc hướng dẫn quan trọng từ người thu thập dữ liệu. Ngoài ra, người thu thập dữ liệu không cần phải hiểu các câu hỏi mà thông tin sẽ được áp dụng. Điều này có lợi thế là mở rộng kích thước địa lý và thời gian mà dữ liệu có thể được thu thập.
Với máy tính, biểu mẫu dựa trên web và mạng internet, thông tin có thể được thu thập bất cứ lúc nào và hầu hết mọi nơi. Phương pháp thu thập này làm giảm chi phí thu thập dữ liệu, nhưng giới hạn về chất lượng và bối cảnh dữ liệu có thể được thu thập. Đặc tính này của thông tin cứng có nghĩa là việc thu thập thông tin có thể tách biệt với việc sử dụng thông tin. Ý nghĩa của thông tin chỉ phụ thuộc vào thông tin được gửi.
Khi mã hóa thông tin và truyền dữ liệu cho người khác, thì tất cả quá trình chuyển tải đều mang thông điệp giống nhau, mọi người đều có cách hiểu và nắm được những nội dung như nhau, không có sự phân biệt đối xử trong quá trình truyền tải và tiếp nhận thông tin. Với phương pháp thu thập thông tin mềm, bối cảnh thu thập thông tin và người thu thập thông tin là một phần của thông tin, không thể tách rời.