CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RRTD TRONG CHO VAY DNNVV TẠI NHTM 1.1 Tín dụng ngân hàng đối với DNNVV 1.1 Khái niệm và đặc điểm DNNVV 1.1 Khái niệm DNNVV Muốn hiểu DNVVN là gì trước hết ta cần tìm hiểu thế nào là doanh nghiệp. Theo luật Doanh nghiệp năm 2005: Doanh nghiệp là một TCKT có tên riêng, có tài sản riờng, cú trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về DNNVV, nhưng nhìn chung DNNVV là những DN có số vốn, lao động hay doanh thu ở một mức giới hạn nào đó. Cho đến nay, vẫn chưa có một tiêu chuẩn chung quốc tế để phân loại DNNVV.
Theo tiêu chuẩn của ngân hàng thế giới World Bank, các doanh nghiệp được chia theo quy mô như sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ (Micro enterprise): Có đến 10 lao động, tổng giá trị tài sản trị giá không quá 100.000 USD và doanh thu hàng năm không quá 100. Doanh nghiệp nhỏ (Small enterprise): Có không quá 50 lao động, tổng giá trị tài sản không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3 triệu USD. Doanh nghiệp vừa (Medium enterprise): Có không quá 300 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15 triệu USD. Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, thế nào là DNNVV là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng quốc gia và nó thay đổi theo từng giai đoạn và thời kì phát triển kinh tế.
Trương Thị Vân Anh Lớp: NHB - K11 Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng Ở Việt Nam, hiện nay, theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp DNNVV phát triển, định nghĩa DNNVV: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1. Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Chỉ tiêu Tổng số Số lao Tổng số Số lao động Số lao động vốn động vốn 1. Nông lâm 10 người trở 20 tỷ đống Trên 10 Từ trên Từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến 20 tỷ đến người đến thủy sản 200 người 100 tỷ 300 người đồng 2.Công 10 người trở 20 tỷ đống Trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và xây xuống trở xuống người đến tỷ đến 100 người đến dựng 200 người tỷ đồng 300 người 3.Thương 10 người trở 10 tỷ đống Trên 10 Từ trên 20 Từ trên 50 mại và dịch xuống trở xuống người đến tỷ đến 50 người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP)[10] 1.2 Đặc điểm của DNNVV Một là, DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh và hiệu quả: Số vốn đăng ký ban đầu của DNNVV không quá 10 tỷ đồng và chu kỳ SXKD của doanh nghiệp ngắn nên khả năng thu hồi vốn nhanh, tăng tốc độ quay vòng để đầu tư vào công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả. Hai là, DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế: các DNVVN hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông lâm ngư nghiệp.
và hoạt động dưới Trương Thị Vân Anh Lớp: NHB - K11 Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng mọi hình thức như: DNNN, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể. Ba là, DNNVV có tính năng động cao: trước những thay đổi của thị trường, các DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh vì vốn đầu tư ít, quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh. Mặt khác do DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế nên chỉ cần không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế - xã hội này thỡ nú sẽ chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường. Bốn là, năng lực kinh doanh còn hạn chế: Do quy mô vốn nhỏ nờn cỏc DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém. DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing cũn kộm hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của Doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiêu thụ trên thị trường. Năm là, năng lực quản lý còn thấp: Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ nên trình độ, kỹ năng của nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng như của người lao động còn hạn chế.
Số lượng DNNVV có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế-xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh.2 Tín dụng ngân hàng đối với DNNVV 1.1 Khái niệm Theo K.Mỏc, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu này sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Trương Thị Vân Anh Lớp: NHB - K11 Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng Như vậy tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Trên cơ sở khái niệm về tín dụng, ta có khái niệm về tín dụng Ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các chủ thể trong nền kinh tế như doanh nghiệp, nhà nước, cá nhân, hộ gia đình.
Trong đó Ngân hàng đóng vai trò là một trung gian tài chính thực hiện huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư để cho vay lại với nền kinh tế. DNNVV cũng là một loại hình DN do đó mang đầy đủ các đặc điểm của DN nói chung. Vì vậy xét về tính tổng quát, hoạt động tín dụng của NH đối với DNNVV cũng tương tự như đối với DN.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV Nhìn chung hoạt động tín dụng của NH đối với DNNVV cũng mang đặc điểm chung giống như đối với DN, ví dụ như về quy trình tín dụng, cách thức, và phương thức cho vay…Bờn cạnh đó cũng mang các nét riêng biệt riêng như sau: Về quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ Các DNNVV ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Song vấn đề nú lờn hiện nay đó là giải quyết vấn đề vốn cho DNNVV.
Trên thực tế các NHTM đang cạnh tranh mạnh mẽ để mở rộng cho vay đối với loại hình DNNVV, đặc biệt là nhu cầu vốn tín dụng để mở rộng sản xuất kinh doanh. Các DNNVV đang là đối tượng khách hàng tiềm năng của các NHTM. Doanh số dư nợ và doanh số cho vay DNNVV của ngành Ngân hàng liên tục tăng qua các năm. Nhiều NHTM tập trung cho vay DNNVV lên tới 70% dư nợ.
Về chi phí tẩm định Chi phí thẩm định của một khoản nợ đối với DNNVV thường được coi là cao vì khoản nợ có giá trị thấp nhưng vẫn phải tiến hành đầy đủ các bước của quy trình tín dụng. Thời gian để CBTD thẩm định một DNNVV thường ít hơn DN lớn vì số lượng giao dịch ớt. Chớnh vì thế, trong NH một CBTD có thể quản lý nhiều khoản vay, giao dịch của nhiều DNNVV. Trương Thị Vân Anh Lớp: NHB - K11 Khóa luận tốt nghiệp 7 Học viện Ngân hàng Về rủi ro tín dụng Hoạt động kinh doanh của NH là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặt biệt là trong hoạt động tín dụng.
Các khoản vay của DNNVV thường là các khoản vay nhỏ, thời gian ngắn hạn và đi kèm với tài sản bảo đảm, nên khi gặp rủi ro với DNNVV, NH sẽ phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ. Do đó, rủi ro xảy ra trong cho vay DNNVV thường nhỏ, chỉ ảnh hưởng đến thu nhập NH mà không mang tính hệ thống. Về khả năng sinh lời NH có thể thu được nguồn lợi lớn từ việc cho vay đối với DNNVV. Đõy chớnh là thị trường tốt để các NH hoạt động.
Nếu tớnh trờn tổng các khoản vay DNNVV, ngoài nguồn lói, cỏc NH còn thu thêm được nhiều khoản chi phí khác đi kèm nhờ cung cấp các dịch vụ: Bảo lãnh, thanh toán, chuyển tiền, L/C.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các DNNVV Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự ra đời và phát triển của các DNNVV Nguồn vốn có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của DN trước nhà nước và pháp luật. Với hoạt động đi vay đối tượng kinh tế thừa vốn nhàn rỗi để sau đó lại cho vay những đối tượng kinh tế khác thiếu vốn kinh doanh, N H đã tạo cơ hội cho các chủ DN muốn thành lập công ty hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh với lượng vốn vay hợp lý. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để DN tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các DNNVV do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì với lượng vốn hạn hẹp tự huy động thì việc sử dụng sẽ làm tăng giá vốn, sản phẩm khó được thị trường chấp nhận.
Để đạt hiệu quả nhất định thì DN cũng cần phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết hợp linh hoạt nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hóa lợi nhuận tại mức giá bỡnh quân rẻ nhất.