CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ SỰ THAM GIA CHUỖI VÀO CUNG ỨNG TOÀN CẦU CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Cơ sở lý luận về liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1 Khái niệm về liên kết kinh doanh Forrester (1958, tr 37-52) khi bàn về quản trị doanh nghiệp đã cho rằng, sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào sự tương tác giữa các luồng thông tin, nguyên vật liệu, tiền, nhân lực và máy móc, đồng thời hệ thống tương tác giữa các nguồn tài nguyên này sẽ dẫn đến sự thay đổi trong các quyết định, chính sách, cơ cấu tổ chức và quyết định đầu tư. Theo tác giả, các doanh nghiệp ngày càng trở nên gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau, mạng lưới tương tác giữa các doanh nghiệp có thể ảnh hưởng tới các chức năng như nghiên cứu, sản xuất, bán hàng và quảng bá sản phẩm. Ông cũng đã minh họa hiện tượng này bằng cách sử dụng mô hình mô phỏng trên máy tính về ảnh hưởng của luồng thông tin đặt hàng tới hiệu suất sản xuất và phân phối của từng thành viên trong chuỗi cung ứng. Cũng trong công trình nghiên cứu này, ông cũng dự báo về tương lai khi các doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của các mối quan hệ, tương tác qua lại giữa các bộ chức năng trong một doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với thị trường, với ngành cũng như toàn bộ nền kinh tế.
Không nằm ngoài dự kiến của Forrester (1958) các doanh nghiệp trong các chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng có xu hướng liên kết chặt chẽ, và liên kết kinh doanh là chủ đề đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu kinh tế. Về bản chất, liên kết kinh doanh là một thành phần không thể thiếu trong các hoạt động cung ứng, sản xuất và phân phối hàng hóa. Với mục đích tối ưu hóa nguồn lực và cắt giảm chi phí, các chuỗi cung ứng đều đòi hỏi các mối quan hệ chặt chẽ, dài hạn giữa các doanh nghiệp ở các cấp bậc khác nhau trong chuỗi, bao gồm sự chia sẻ thông tin về cầu và doanh số (La Londe & Masters,1994; Monczka và cộng sự, 1998). Hirschman (1958) được xem là người đầu tiên đưa ra khái niệm về liên kết giữa các ngành khi bàn về chiến lược phát triển kinh tế.
Theo ông, liên kết là một phương thức giúp hình thành và phát triển nhiều ngành nghề trong nền kinh tế. luan an 14 Hirschman cũng cho rằng, xây dựng liên kết giữa ngành dẫn đầu với các ngành cung ứng đầu vào là chiến lược phù hợp với các nước đang phát triển, bởi không chỉ các doanh nghiệp trong ngành cung ứng được hưởng lợi mà nguồn nhân lực và hiệu quả quản trị công cũng được cải thiện. Hiện nay, mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất nhưng có thể hiểu liên kết kinh doanh là mối quan hệ thương mại có lợi cho các doanh nghiệp hoạt động độc lập vì mục tiêu lợi nhuận (Grierson và cộng sự 1997). Ở một khía cạnh nào đó, liên kết kinh doanh có thể được xem là hệ quả tích cực của nền kinh tế thị trường khi các doanh nghiệp tìm kiếm các phương thức tăng cường hiệu quả kinh doanh sản xuất.
Các liên kết có thể được hình thành chính thức hoặc phi chính thức, phụ thuộc vào các nguồn lực, mối quan hệ, vị thế, các mục tiêu và trình độ của các thành viên trong liên kết. Việc duy trì một mối liên kết phụ thuộc vào cả các yếu tố bên trong và bên ngoài liên kết đó. Tuy nhiên, dù mỗi thành viên có những động cơ riêng, các thành viên trong liên kết cũng sẽ hướng tới mục tiêu chung là tăng chất lượng sản phẩm và dịch vụ, nâng cao hiệu suất lao động, tăng cường khả năng đàm phám để thương lượng các điều khoản thuận lợi về giá cả và tăng cường vị thế. Ở khía cạnh lịch sử, các liên kết kinh doanh được hình thành từ việc doanh nghiệp tiến hành các hoạt động thuê ngoài nhằm tập trung vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi.
Cook và cộng sự (1997) đề cập đến khái niệm thuê ngoài (outsourcing) là chiến lược mua dịch vụ hoặc linh kiện từ các nhà cung cấp để công ty không phải mở rộng hoạt động vượt quá khả năng cốt lõi của mình. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng thuê ngoài thực tế ngày càng phổ biến và các công ty có thể giảm thiểu các hoạt động nội bộ không thiết yếu và không liên quan đến hoạt động kinh doanh cốt lõi bằng việc ký hợp đồng với các nhà cung cấp bên ngoài để thuê các dịch vụ chuyên biệt. Robbins (1997) hàm ý mối quan hệ/liên kết giữa người mua và nhà cung cấp là hệ quả tự nhiên khi doanh nghiệp tập trung vào các năng lực cốt lõi và các thế mạnh của mình và mua các thứ khác từ bên ngoài. Dưới góc độ kinh tế, việc thuê ngoài và phát triển liên kết kinh doanh với các doanh nghiệp khác giúp các công ty phá bỏ hệ thống phân cấp của mình để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tăng cường tính linh hoạt, đồng thời cho phép họ tập trung vào các chức năng mà họ có thể làm tốt nhất.
Dưới góc độ trách nhiệm xã hội, các hoạt động này của doanh nghiệp có thể đóng góp cho các chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp có hoàn cảnh khó khăn (Mead, 1998).2 Các hình thức liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Về hình thức, liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng được phân loại như liên kết kinh doanh giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Cụ thể, theo cơ cấu quy trình sản xuất , các liên kết giữa các doanh nghiệp có thể được phân loại như sau: Một là liên kết ngang, được hiểu là hợp tác giữa các DN ở cùng trong cùng ngành sản xuất. Ví dụ, các công ty sản xuất sữa với công ty sản xuất thực phẩm có thể liên kết với nhau để tận dụng kênh phân phối. Mối liên kết này giúp DN đạt được tính kinh tế theo quy mô, nhờ vậy cắt giảm được chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Liên kết ngang còn mang lại cơ hội chia sẻ kỹ năng và công nghệ giữa các DN, nhờ vậy DN có thể tiến hành các hoạt động đổi mới sáng tạo, nâng cấp được vị thế của mình. Không chỉ vậy, sự hợp tác này còn giúp các DN có thể giảm thiểu các chi phí marketing khi các DN có thể cùng kết hợp để nghiên cứu thị trường hay cùng tham gia hội chợ, in ấn các tài liệu quảng bá sản phẩm (Schulenburg 2006, tr 5). Hai là liên kết dọc, được hiểu là liên kết giữa các DN ở các khâu khác nhau trong quy trính ản xuất nhằm đưa một sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng (Schulenburg 2006, tr 6). Thông qua cơ chế phân công lao động và chuyên môn hóa, các DN có thể tối ưu hóa được nguồn lực và chi phí hoạt động.
Các DN thông qua liên kết dọc có thể tạo ra các kênh trao đổi thông tin hiệu quả, áp dụng biện pháp giao hàng đúng lúc (Just-in-time delivery), cắt giảm chi phí lưu kho và tăng cường sự hài lòng của khách hàng. Khi tham gia các liên kết dọc, các DN có thể cùng thiết lập tiêu chuẩn chung về chất lượng sản phẩm cũng như các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội. Đồng thời các DN còn có thể cùng phối hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm hiện thời hoặc phát triển sản phẩm mới. Liên kết theo chiều dọc có thể là liên kết ngược (backward linkages), hướng về bên trái chuỗi cung ứng khi DN sử dụng đầu vào cung ứng bởi một doanh nghiệp khác.
Liên kết dọc cũng có thể ở hình thức liên kết xuôi (forward linkages) hướng về bên phải chuỗi cung ứng. Ví dụ, DN sản xuất thuê một DN khác để thực hiện các hoạt động marketing, phân phối bán hàng. Theo hình thức pháp lý, các liên kết kinh doanh có thể được thực hiện dưới các hình thức (i) hợp đồng thầu phụ (sub-contracting), (ii) nhượng quyền thương mại luan an 16 (franchising) hoặc (iii) thỏa thuận liên kết (linkage arrangement) (Grierson và cộng sự 1997). Cụ thể, với hợp đồng thầu phụ, DN ký kết hợp đồng nhằm thuê một DN khác thực hiện việc cung cấp một hàng hóa, dịch vụ thay vì tự sản xuất.
Do đó có thể nói hợp đồng thầu phụ là một loại hình của các liên kết ngược khi DN thực hiên phân hóa quy trình sản xuất thành những khâu khác nhau và thuê các DN khác nhằm tối ưu hóa về nguồn lực và chi phí. Các nhà thầu phụ, thường là các DNNVV với sự linh hoạt của mình cũng có thể được hưởng lợi từ việc nhận được các đơn hàng từ các DN lớn, và không phải thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm cũng như marketing- vốn không phải là điểm mạnh của họ. Tuy nhiên, các liên kết này cũng tiềm ẩn những rủi ro khi các DNNVV có thể quá phụ thuộc vào khách hàng, dẫn tới gặp khó khăn nếu bị thay thế bởi các nhà thầu phụ khác (Altenburg, 2000) Các hợp đồng nhượng quyền thương mại được thực hiện khi DN cho phép DN khác sử dụng thương hiệu của mình để tiếp thị cho sản phẩm, dịch vụ mà mình tạo ra. Để nhận được phí nhượng quyền, bên nhượng quyền cần cung cấp hỗ trợ về đào tạo và marketing, đôi khi cả thiết bị và tín dụng, để bên nhận nhường quyền có thể tuân thủ về tiêu chuẩn chất lượng và quy trình sản xuất, nhằm đảm bảo uy tín của thương hiệu.
Như vậy, bên nhận nhượng quyền không cần phải đầu tư vào các hoạt động đổi mới sáng tạo, do đó nhượng quyền thương mại phù hợp với cả những cá nhân chưa có kinh nghiệm trong kinh doanh. Tuy nhiên, để nhận được nhượng quyền, DN cũng cần phải có khả năng tài chính nhất định để chi trả các khoản phí nhượng quyền. Theo Grierson và cộng sự (1997), nếu như hai hình thức nêu trên xuất phát từ chủ ý của một DN dẫn dắt (leading firm) trong việc chuyển giao bớt một phần việc sang các DN khác, với hình thức thỏa thuận liên kết, các DN tham gia liên kết có vai trò bình đẳng và không có DN nào có lợi thế thống trị trong chuỗi sản xuất và phân phối. Hình thức này phổ biến ở Tây Âu, đặc biệt trong ngành sản xuất nội thất và thời trang cao cấp.