Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Thư được thực hiện trong khuôn khổ luận án tiến sĩ ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9310106) tại Trường Đại học Ngoại thương, bảo vệ năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Nguyễn Thị Tường Anh và PGS, TS Nguyễn Thị Thùy Vinh.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế tự do hóa thương mại, đầu tư quốc tế đã thúc đẩy quá trình tổ chức sản xuất phân tán theo các chuỗi cung ứng toàn cầu. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), việc tham gia trực tiếp vào mạng lưới sản xuất quốc tế gặp nhiều rào cản nội tại do hạn chế về nguồn vốn, trình độ công nghệ, năng lực quản trị và kỹ năng tiếp thị thị trường quốc tế (Ganne & Lundquist, 2019; AMTC, 2018). Trước những thách thức đó, việc thiết lập mối liên kết với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DN FDI) được các tổ chức quốc tế và học giả đánh giá là kênh trung gian khả thi giúp DNNVV gián tiếp tích hợp vào chuỗi cung ứng toàn cầu, từng bước nâng cấp năng lực để hướng tới tham gia trực tiếp (Chính phủ, 2013; WB, 2017; Lopez-Gonzalez, 2017). Tuy nhiên, tại Việt Nam, mối liên kết giữa khu vực FDI và DNNVV trong nước còn tương đối lỏng lẻo; một số nghiên cứu trước đây thậm chí chỉ ra tác động tiêu cực của liên kết xuôi do chi phí đầu vào từ DN FDI ở mức cao (Nguyen Ngoc Anh và cộng sự, 2008; Tran Toan Thang, 2011).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các công trình trước đây chỉ phân tích tác động lan tỏa của FDI ở cấp độ vĩ mô hoặc cấp độ ngành, thiếu các kiểm chứng thực nghiệm ở cấp độ doanh nghiệp về vai trò của liên kết FDI đối với mức độ tham gia chuỗi cung ứng của DNNVV; đồng thời, các nghiên cứu về việc hình thành liên kết chủ yếu tiếp cận từ góc độ của các DN FDI mà chưa khảo sát toàn diện từ phía DNNVV trong nước trên cả hai khía cạnh liên kết ngược và liên kết xuôi.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tìm hiểu về các liên kết giữa DNNVV và DN FDI nhằm thúc đẩy sự tham gia của DNNVV Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ đó, hai mục tiêu cụ thể được xác định:

  • Thứ nhất, chứng minh liên kết giữa DNNVV và DN FDI tạo ra ảnh hưởng tích cực, giúp đẩy mạnh sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của DNNVV.
  • Thứ hai, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng DNNVV liên kết với DN FDI nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường liên kết giữa DNNVV và DN FDI.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, luận án giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu:

  • Một là: Tham gia liên kết với DN FDI có ảnh hưởng tích cực đến khả năng tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng toàn cầu của DNNVV Việt Nam không?
  • Hai là: Những giải pháp nào có thể tăng cường liên kết giữa DNNVV và DN FDI nhằm đẩy mạnh sự tham gia của DNNVV Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối liên kết kinh doanh với các DN FDI và ảnh hưởng của các mối liên kết này tới việc đẩy mạnh sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của DNNVV Việt Nam, trọng tâm là các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế tạo.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về nội dung: Luận án tập trung vào ngành công nghiệp chế tạo (lĩnh vực thu hút khoảng 60% vốn FDI tại Việt Nam và có mức độ tham gia chuỗi cung ứng điển hình như dệt may, da giày, điện tử). Về loại hình liên kết, tác giả giới hạn ở các liên kết dọc (bao gồm liên kết ngược - DNNVV bán hàng cho FDI, và liên kết xuôi - DNNVV mua đầu vào từ FDI) do các nghiên cứu thực nghiệm xác nhận liên kết ngang ít mang lại tác động lan tỏa tích cực (Blalock & Gertler, 2003). Hoạt động tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng toàn cầu được đo lường thông qua hoạt động nhập khẩu đầu vào và xuất khẩu sản phẩm đầu ra.
  • Về không gian: Địa bàn nghiên cứu là các doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Về thời gian: Dữ liệu định lượng phục vụ mô hình kinh tế lượng được khai thác từ cuộc Điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê trong giai đoạn 2012–2018; phần phân tích thực trạng sử dụng số liệu mở rộng từ báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2010–2019 và Niên giám Thống kê 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo ba nhóm trọng tâm:

Thứ nhất là các nghiên cứu về hiệu ứng lan tỏa của FDI và hoạt động quốc tế hóa của doanh nghiệp. Các học giả như Blomström và Kokko (1998), Moran (2001), Driffield và cộng sự (2002), Le và Pomfret (2011) khẳng định sự hiện diện của FDI tạo ra hiệu ứng trình diễn và lan tỏa năng suất thông qua chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ quản trị. Tusha và cộng sự (2017) chỉ ra liên kết với DN FDI giúp doanh nghiệp Việt Nam gia tăng số lượng khách hàng quốc tế. Về khía cạnh thương mại, Greenaway và cộng sự (2004), Anwar và Nguyen (2011a, 2011b), Farole và Winkler (2014) tìm thấy bằng chứng khu vực FDI thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp bản địa. Tuy nhiên, một số nghiên cứu tại Việt Nam như Nguyen Ngoc Anh và cộng sự (2008) hay Tran Toan Thang (2011) lưu ý liên kết xuôi có thể làm tăng chi phí sản xuất do giá đầu vào từ DN FDI tương đối cao.

Thứ hai là các nghiên cứu về sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi cung ứng toàn cầu và hiệu ứng học hỏi. Nghiên cứu của Delgado và cộng sự (2002) tại Tây Ban Nha, Baldwin và Gu (2003) tại Canada, Newman và cộng sự (2017) tại Việt Nam xác nhận hiệu ứng học hỏi thông qua xuất khẩu giúp nâng cao năng suất doanh nghiệp. Đối với khía cạnh nhập khẩu đầu vào, Amiti và Konings (2005) tại Indonesia, Topalova và Khandelwal (2011) tại Ấn Độ chứng minh việc tiếp cận nguyên vật liệu nhập khẩu chất lượng cao cải thiện rõ rệt năng suất sản xuất. Sự kết hợp đồng thời giữa nhập khẩu đầu vào và xuất khẩu đầu ra được nhiều tác giả khẳng định là làm gia tăng năng suất tổng hợp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo (Kasahara & Rodrigue, 2008; Vu Kim Toan, 2012; Kasahara & Lapham, 2013; Brancati và cộng sự, 2015, 2017; Lu và cộng sự, 2019; Dang & Dang, 2020).

Thứ ba là các nghiên cứu về nhân tố hình thành mối liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và DN FDI. Các công trình của Nguyễn Thị Thùy Vinh và cộng sự (2017), Ngân hàng Thế giới (WB, 2017), Đào Hoàng Tuấn và cộng sự (2021) phân tích điều kiện để doanh nghiệp trong nước trở thành nhà cung ứng cho khối FDI, tập trung vào năng lực hấp thụ công nghệ, quy mô vốn, trình độ lao động và chất lượng môi trường thể chế.

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết:

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm ở cấp độ doanh nghiệp (micro-level) thay vì cấp độ vĩ mô hay cấp ngành nhằm khẳng định tác động thúc đẩy của liên kết FDI tới mức độ tham gia trực tiếp chuỗi cung ứng của DNNVV Việt Nam.
  • Khảo sát chuyên biệt nhóm đối tượng DNNVV ngành chế tạo – phân khúc chiếm tỷ trọng lớn nhưng năng lực cạnh tranh còn nhiều điểm yếu.
  • Phân tích đa chiều cả liên kết ngược và liên kết xuôi trong mối quan hệ với bốn trạng thái tham gia chuỗi cung ứng, đồng thời lượng hóa các nhân tố quyết định khả năng liên kết từ chính đặc tính nội tại của DNNVV và môi trường thể chế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa các lý thuyết kinh tế quốc tế và quản trị kinh doanh:

  • Khái niệm liên kết kinh doanh và tương tác hệ thống: Xuất phát từ quan điểm của Forrester (1958) về tương tác luồng thông tin - vật tư giữa các bộ phận và doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng; khái niệm liên kết phát triển ngành của Hirschman (1958) về liên kết ngược và liên kết xuôi; cùng các nghiên cứu về chiến lược thuê ngoài (outsourcing) của Cook và cộng sự (1997), Robbins (1997) và Altenburg (2000).
  • Khung chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng: Khái niệm chuỗi giá trị của Michael Porter (1985) và mô hình Chuỗi giá trị tham chiếu (Value Chain Reference Model - VCRM) của Frederick (2010, 2014) tích hợp 4 thành tố: hoạt động tạo giá trị gia tăng, chuỗi cung ứng, thị trường đầu ra và môi trường hỗ trợ kinh doanh.
  • Lý thuyết thương mại "Mới" Mới (New "New" Trade Theory): Mô hình của Melitz (2003) và mô hình mở rộng của Helpman và cộng sự (2004) về tính dị biệt của doanh nghiệp. Theo mô hình, tồn tại ngưỡng năng suất tối thiểu $\varphi^$ để doanh nghiệp hòa vốn trong nước và ngưỡng năng suất $\varphi_x^$ ($\varphi_x^* > \varphi^*$) để doanh nghiệp đủ khả năng bù đắp chi phí cố định chìm khi tham gia thị trường xuất khẩu.
  • Lý thuyết phân hóa quá trình sản xuất (Fragmentation of production): Khung phân tích của Jones và Kierzkowski (1990, 2000) về sự chia tách quy trình sản xuất thành các khối sản xuất (production blocks) kết nối thông qua các dịch vụ liên kết (service links), giúp hạ thấp chi phí biên và khai thác tính kinh tế theo quy mô.
  • Khung phân loại hình thức tham gia chuỗi cung ứng: Tiếp cận theo Dollar và cộng sự (2016), chia hoạt động của doanh nghiệp thành 4 nhóm:
    • D2P (Domestic inputs for domestic Production): Sử dụng đầu vào trong nước sản xuất cho thị trường trong nước (thuần túy nội địa, không tham gia chuỗi).
    • D2E (Domestic inputs for Exporting): Sử dụng đầu vào trong nước sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
    • I2P (Import foreign inputs for domestic Producing): Nhập khẩu đầu vào sản xuất cho thị trường trong nước.
    • I2E (Import foreign inputs for Exporting): Nhập khẩu đầu vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu (mức độ hội nhập sâu nhất). Kết hợp với quan điểm của Lopez-Gonzalez (2017) và Ganne & Lundquist (2019) về việc phân định sự tham gia trực tiếp (xuất nhập khẩu) và gián tiếp (thông qua liên kết với DN FDI).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

  • Phương pháp định lượng:
    • Mô hình hồi quy logit đa thức (Multinomial Logit - MNL): Dùng để ước lượng ảnh hưởng của các biến liên kết với DN FDI (liên kết chung, liên kết ngược, liên kết xuôi) tới xác suất lựa chọn các hình thức tham gia chuỗi (D2E, I2P, I2E) so với nhóm cơ sở là không tham gia chuỗi (D2P).
    • Mô hình probit đa biến (Multivariate Probit): Được áp dụng để kiểm định tính vững của các kết quả ước lượng từ mô hình logit đa thức.
    • Mô hình hồi quy logit nhị phân và hồi quy mức độ liên kết: Đánh giá tác động của các nhân tố thuộc về đặc điểm doanh nghiệp (lao động, vốn, đổi mới sáng tạo, vị trí khu công nghiệp), khoảng cách công nghệ với DN FDI và môi trường thể chế cấp tỉnh tới khả năng cũng như mức độ thiết lập liên kết ngược và xuôi.
    • Kiểm định thống kê: Kiểm định kiểm tra sự khác biệt trung bình mẫu (T-test) giữa các nhóm doanh nghiệp tham gia và không tham gia liên kết, giữa các nhóm hình thức tham gia chuỗi.
  • Phương pháp định tính: Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn chuyên sâu (in-depth interview) đối với lãnh đạo các doanh nghiệp ngành chế tạo theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện nhằm đối sánh và làm rõ cơ chế tác động. Danh sách các đơn vị được phỏng vấn gồm: Công ty Đam San, Công ty Trà Lý (ngành dệt); Công ty Yên Thế, Công ty Minh Trí, Công ty Parosy (ngành may mặc); Công ty 4Ps, Công ty Thành Long (ngành điện tử).

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu:

  • Dữ liệu mảng cấp doanh nghiệp từ cuộc Điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (giai đoạn 2012–2018), tập trung vào phiếu 1A/ĐTDN-DN (thông tin chung về tài sản, lao động, doanh thu) và phiếu 1Am/ĐTDN-KH (phiếu chuyên khảo về công nghệ, cơ cấu đầu vào, đầu ra và xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế tạo).
  • Bộ dữ liệu Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) thực hiện hàng năm.
  • Dữ liệu thống kê vĩ mô, trình độ lao động cấp tỉnh trích xuất từ Niên giám Thống kê 2019 và cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về liên kết với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, cơ sở lý thuyết nền tảng về liên kết kinh doanh và sự tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của khối DNNVV. Tác giả phân tích các hình thức liên kết theo cơ cấu quy trình sản xuất (liên kết ngang, liên kết dọc gồm liên kết ngược và liên kết xuôi) và theo hình thức pháp lý (hợp đồng thầu phụ, nhượng quyền thương mại, thỏa thuận liên kết).

Luận án làm rõ lợi ích của liên kết đối với ba chủ thể:

  • Đối với DNNVV: Mở rộng thị trường, đa dạng hóa khách hàng, nâng cao năng suất nhờ chuyển giao công nghệ và học hỏi kỹ năng quản trị, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và chia sẻ rủi ro tài chính.
  • Đối với DN FDI: Giảm chi phí sản xuất và phân phối, tận dụng nguồn cung địa phương để giảm phụ thuộc ngoại tệ và rủi ro tỷ giá, gia tăng tính linh hoạt và đáp ứng quy định về tỷ lệ nội địa hóa nhằm hưởng ưu đãi xuất xứ.
  • Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Thúc đẩy phân công lao động, tạo việc làm, cải thiện cán cân thanh toán và tạo hiệu ứng lan tỏa tri thức ra toàn nền kinh tế.

Đồng thời, chương này cũng phân tích các bất lợi tiềm ẩn đối với DNNVV khi liên kết như vị thế đàm phán yếu, rủi ro bị ép giá, chi phí lưu kho cao, nguy cơ lệ thuộc hợp đồng và khả năng bị gián đoạn hoạt động khi bị thay thế bởi đối tác khác. Đối với nội dung chuỗi cung ứng toàn cầu, chương 1 phân tích chuỗi cung ứng trực tiếp, mở rộng và phức hợp (Mentzer và cộng sự, 2001), mô hình VCRM (Frederick, 2014), cùng các lý thuyết của Melitz (2003) và Jones & Kierzkowski (1990, 2000). Luận án xác định rõ hai kênh hội nhập của DNNVV: tham gia trực tiếp (nhập khẩu đầu vào, xuất khẩu đầu ra) và tham gia gián tiếp (thông qua liên kết với DN FDI).

Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa FDI, liên kết kinh doanh và sự tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Tác giả điểm lại các nghiên cứu định lượng về mức độ tham gia chuỗi tại Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam, cũng như tổng kết các nhân tố tác động tới quá trình quốc tế hóa của doanh nghiệp.

Từ việc chỉ ra các khoảng trống tri thức về thiếu hụt bằng chứng thực nghiệm cấp vi mô đối với khối DNNVV tại Việt Nam, tác giả xây dựng khung nghiên cứu thực chứng và thiết lập hai mô hình kinh tế lượng phục vụ phân tích ở chương 4:

  • Mô hình 1: Đánh giá ảnh hưởng của liên kết với DN FDI tới 4 trạng thái tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của DNNVV.
  • Mô hình 2: Phân tích các nhân tố thuộc về nội tại doanh nghiệp, khoảng cách công nghệ và môi trường thể chế tác động đến khả năng và mức độ liên kết của DNNVV với DN FDI.

Chương 3: Tổng quan mối liên kết với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Chương 3 phác thảo bức tranh thực trạng về tình hình hoạt động của khối DNNVV và khu vực FDI tại Việt Nam giai đoạn 2010–2019. Tác giả sử dụng số liệu từ Niên giám Thống kê, khảo sát PCI và điều tra doanh nghiệp ngành chế tạo để minh chứng cho các đánh giá:

  • Khu vực FDI đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tuy nhiên mối liên kết với các doanh nghiệp trong nước vẫn còn lỏng lẻo. Tỷ lệ DN FDI sử dụng nhà cung cấp tư nhân trong nước còn hạn chế; phần lớn nhà cung ứng là các DN FDI khác hoặc nhập khẩu từ chính quốc.
  • Tỷ lệ DNNVV tham gia liên kết ngược (cung cấp hàng hóa/dịch vụ cho DN FDI) và liên kết xuôi (mua nguyên vật liệu/máy móc từ DN FDI) có xu hướng gia tăng theo quy mô doanh nghiệp; các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ có tỷ lệ tham gia rất thấp.
  • Khảo sát các trường hợp chuỗi cung ứng điển hình (dệt may, da giày, điện tử 3C) cho thấy DNNVV Việt Nam chủ yếu đảm nhận các khâu gia công lắp ráp đơn giản có giá trị gia tăng thấp (như cắt may CMT trong dệt may, gia công linh kiện bao bì, vỏ nhựa đơn giản trong chuỗi điện tử của Samsung).
  • Phân tích tương quan cho thấy nhóm doanh nghiệp có liên kết với DN FDI có tỷ lệ tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp cao hơn đáng kể so với nhóm không có liên kết.

Chương 4: Phân tích thực chứng về liên kết với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đẩy mạnh sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Chương 4 là phần thực nghiệm trọng tâm của luận án, trình bày chi tiết về biến số, dữ liệu mẫu mảng (2012–2018) và kết quả hồi quy kinh tế lượng.

Bảng tổng hợp phân loại trạng thái tham gia chuỗi cung ứng của DNNVV ngành chế tạo trong giai đoạn nghiên cứu:

Ký hiệu Tên hình thức tham gia Mô tả hình thức Tỷ lệ trong mẫu nghiên cứu
D2P Nội địa thuần túy Sử dụng đầu vào trong nước để sản xuất cho thị trường trong nước (nhóm cơ sở) Chiếm tỷ trọng cao nhất
D2E Chỉ xuất khẩu Sử dụng đầu vào trong nước để sản xuất hàng hóa xuất khẩu Tỷ trọng trung bình thấp
I2P Chỉ nhập khẩu Nhập khẩu đầu vào để sản xuất cho thị trường trong nước Xu hướng gia tăng
I2E Xuất nhập khẩu kết hợp Nhập khẩu đầu vào để sản xuất hàng hóa xuất khẩu (tham gia hai chiều) Tỷ trọng tăng dần qua các năm

Kết quả hồi quy mô hình logit đa thức (MNL) và kiểm định bằng mô hình probit đa biến cho thấy:

  • Biến liên kết kinh doanh chung với DN FDI có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê tới xác suất doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng ở hai trạng thái: I2P (nhập khẩu đầu vào cho thị trường nội địa) và I2E (nhập khẩu đầu vào để xuất khẩu). Kết quả này khẳng định việc liên kết với DN FDI kích thích doanh nghiệp chủ động tìm kiếm và sử dụng nguồn đầu vào nhập khẩu chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật khắt khe, đồng thời củng cố khả năng xuất khẩu đầu ra.
  • Khi phân tách thành liên kết ngược và liên kết xuôi, cả hai hình thức đều có hệ số hồi quy dương có ý nghĩa thống kê đối với khả năng doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu kết hợp (I2E).
  • Phân tích theo nhóm quy mô khẳng định tác động thúc đẩy của liên kết biểu hiện rõ nét nhất ở các doanh nghiệp quy mô vừa so với nhóm doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ.

Đối với mô hình phân tích nhân tố quyết định khả năng liên kết với DN FDI:

  • Quy mô lao động và mức độ trang bị vốn của DNNVV có tác động dương có ý nghĩa thống kê tới xác suất tham gia cả liên kết ngược và liên kết xuôi.
  • Biến doanh nghiệp đặt địa điểm tại các khu công nghiệp làm tăng đáng kể khả năng kết nối và ký kết hợp đồng thầu phụ với các DN FDI nhờ lợi thế tiếp cận không gian địa lý.
  • Doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo (cải tiến sản phẩm, đổi mới quy trình công nghệ) có xác suất liên kết với DN FDI cao hơn rõ rệt.
  • Khoảng cách công nghệ giữa DNNVV và DN FDI tỷ lệ nghịch với khả năng liên kết: khoảng cách công nghệ càng nhỏ, năng lực hấp thụ càng cao, doanh nghiệp càng dễ dàng đáp ứng tiêu chuẩn của đối tác FDI.
  • Môi trường thể chế cấp tỉnh: Điểm số PCI tổng hợp có tác động tích cực tới khả năng hình thành liên kết của doanh nghiệp, cho thấy tính minh bạch và chất lượng điều hành kinh tế địa phương là bệ đỡ quan trọng cho liên kết kinh doanh.

Chương 5: Đề xuất giải pháp tăng cường liên kết với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để đẩy mạnh sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Chương 5 hệ thống hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách của Chính phủ về phát triển khu vực kinh tế tư nhân và định hướng thu hút FDI thế hệ mới. Tác giả phân tích kinh nghiệm phát triển liên kết kinh doanh và chương trình phát triển nhà cung ứng (Vendor Development Program - VDP) của một số quốc gia (như Malaysia, Thái Lan, Singapore) để rút ra bài học cho Việt Nam.

Trên cơ sở kết quả hồi quy thực chứng ở chương 4, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm đề xuất đối với Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước:
    • Hoàn thiện khung khổ pháp lý và triển khai hiệu quả Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghiệp hỗ trợ và kết nối nhà cung ứng.
    • Thúc đẩy thành lập các cụm liên kết ngành và hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp, khu chế xuất nhằm tạo không gian kết nối địa lý giữa DNNVV và DN FDI.
    • Tiếp tục cải thiện chất lượng môi trường thể chế cấp tỉnh, nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí không chính thức và cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hải quan, thuế.
    • Thiết kế các gói tín dụng ưu đãi và chương trình hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ, thu hẹp khoảng cách công nghệ với khối ngoại.
  • Nhóm giải pháp đối với bản thân các DNNVV:
    • Chủ động đầu tư nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và chuẩn hóa quy trình sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế (như hệ thống ISO).
    • Tăng cường liên kết ngang giữa các DNNVV trong nước để hình thành quy mô sản xuất đủ lớn, chia sẻ đơn hàng và cùng nâng cao vị thế đàm phán khi tiếp cận DN FDI.
    • Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, nâng cao kỹ năng đàm phán hợp đồng thương mại và năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chuỗi cung ứng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Minh Thư đã đạt được những đóng góp khoa học và thực tiễn cụ thể:

Về mặt lý luận và học thuật:

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về mối liên hệ hữu cơ giữa liên kết kinh doanh theo chiều dọc (ngược và xuôi) với sự tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của khối DNNVV tại các quốc gia đang phát triển.
  • Công trình là nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam sử dụng dữ liệu mảng cấp doanh nghiệp quy mô lớn (2012–2018) từ cuộc Điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê kết hợp với chỉ số thể chế PCI để kiểm định định lượng đồng thời hai chiều tác động: (1) ảnh hưởng của liên kết FDI tới 4 trạng thái tham gia chuỗi cung ứng (D2P, D2E, I2P, I2E) và (2) các nhân tố quyết định khả năng hình thành liên kết dọc của DNNVV.
  • Làm rõ cơ chế tác động: liên kết với DN FDI không chỉ đóng vai trò là kênh tiêu thụ đầu ra gián tiếp mà còn là động lực thúc đẩy DNNVV nâng cao năng lực thông qua việc nhập khẩu đầu vào kỹ thuật cao (I2P), từ đó tạo bước đệm chuyển hóa sang trạng thái vừa nhập khẩu đầu vào vừa xuất khẩu đầu ra trực tiếp (I2E).

Về mặt thực tiễn và chính sách:

  • Cung cấp các bằng chứng xác thực về vai trò của khoảng cách công nghệ, vị trí trong khu công nghiệp, hoạt động đổi mới sáng tạo và chỉ số thể chế địa phương đối với việc hình thành mối liên kết cung ứng.
  • Đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách đồng bộ từ cấp trung ương đến địa phương nhằm hiện thực hóa các cam kết hỗ trợ DNNVV, giúp các nhà hoạch định chính sách có căn cứ thực chứng khi xây dựng các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ và kết nối chuỗi cung ứng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phần tự đánh giá của tác giả tại mục 5.3.3 và phạm vi nghiên cứu của văn bản:

  • Dữ liệu thực nghiệm của luận án mới chỉ tập trung vào các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế tạo, chưa bao quát sang các ngành dịch vụ hay nông nghiệp – những lĩnh vực cũng đang có xu hướng dịch chuyển theo các chuỗi giá trị toàn cầu.
  • Nguồn dữ liệu mảng từ Tổng cục Thống kê giai đoạn 2012–2018 mặc dù có tính đại diện cao nhưng một số chỉ tiêu về chi tiết tỷ lệ giá trị cung ứng nội địa hay chi phí giao dịch liên kết chưa được bóc tách triệt để do giới hạn của mẫu phiếu điều tra chuẩn hóa.
  • Phương pháp khảo sát phỏng vấn sâu mới dừng lại ở quy mô mẫu thuận tiện tại một số doanh nghiệp thuộc nhóm ngành dệt may và điện tử, do đó tính khái quát hóa cho toàn bộ các phân ngành chế tạo khác còn mức độ nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát sang các mối liên kết ngang và liên kết mạng lưới hỗn hợp, đồng thời cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2018 để đánh giá thêm tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) tới mối liên kết giữa DNNVV và khu vực FDI.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế và Thương mại quốc tế: Luận án cung cấp một khung phân tích bài bản kết hợp giữa mô hình VCRM, lý thuyết Melitz và kinh tế lượng vi mô ứng dụng (mô hình logit đa thức và probit đa biến) trên bộ dữ liệu mảng điều tra doanh nghiệp Việt Nam. Chương 1, Chương 2 và phần mô hình tại Chương 4 là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc xây dựng khung nghiên cứu thực chứng.
  • Đối với giảng viên đại học: Công trình cung cấp các dẫn chứng số liệu thực tế, nghiên cứu tình huống điển hình về chuỗi cung ứng dệt may và điện tử 3C tại Việt Nam, phục vụ công tác giảng dạy các học phần Kinh tế quốc tế, Quản trị chuỗi cung ứng toàn cầu và Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, VCCI): Các kết quả định lượng tại Chương 4 và hệ thống giải pháp tại Chương 5 cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách chọn lọc FDI, phát triển cụm công nghiệp liên kết và thiết kế các chương trình hỗ trợ kỹ thuật có trọng tâm cho cộng đồng DNNVV.

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn hình thức tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu được luận án sử dụng để phân loại doanh nghiệp là những hình thức nào? Dựa trên nghiên cứu của Dollar và cộng sự (2016), luận án chia hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành 4 nhóm:

  • D2P: Sử dụng đầu vào trong nước sản xuất cho thị trường trong nước (doanh nghiệp thuần túy nội địa, chưa tham gia chuỗi).
  • D2E: Sử dụng đầu vào trong nước sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu.
  • I2P: Nhập khẩu đầu vào từ nước ngoài để sản xuất phục vụ thị trường trong nước.
  • I2E: Nhập khẩu đầu vào từ nước ngoài để sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu (hình thức tham gia hai chiều, hội nhập sâu nhất).

2. Mô hình định lượng của luận án chỉ ra liên kết với DN FDI tác động như thế nào đến khả năng tham gia chuỗi của DNNVV? Kết quả hồi quy mô hình logit đa thức (MNL) trong Chương 4 cho thấy liên kết kinh doanh nói chung, cũng như liên kết ngược và liên kết xuôi nói riêng, có tác động dương và có ý nghĩa thống kê tới khả năng DNNVV tham gia vào chuỗi cung ứng dưới hai hình thức I2P và I2E (so với nhóm cơ sở D2P). Điều này chứng minh liên kết với DN FDI tạo động lực để DNNVV sử dụng đầu vào nhập khẩu chất lượng cao và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế.

3. Những đặc điểm nội tại nào của DNNVV giúp làm tăng xác suất liên kết với DN FDI? Luận án chỉ ra ba đặc tính nội tại quan trọng:

  • Quy mô lao động và mức độ trang bị vốn lớn hơn giúp tăng đáng kể xác suất thiết lập liên kết.
  • Doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo (cải tiến sản phẩm, quy trình) có khả năng tham gia liên kết cao hơn.
  • Vị trí địa lý: Các doanh nghiệp đặt nhà xưởng sản xuất trong các khu công nghiệp có cơ hội liên kết cao hơn nhờ tính thuận tiện trong kết nối vận chuyển và giao dịch với các DN FDI lân cận.

4. Khoảng cách công nghệ giữa DNNVV và DN FDI có ảnh hưởng như thế nào đến sự hình thành liên kết? Kết quả kiểm định thực chứng khẳng định khoảng cách công nghệ có mối quan hệ nghịch chiều với khả năng liên kết. Khoảng cách công nghệ giữa DNNVV trong nước và DN FDI càng nhỏ thì khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của đối tác nước ngoài càng cao, từ đó xác suất hình thành hợp đồng liên kết cung ứng càng lớn.

5. Chất lượng thể chế cấp tỉnh (đo bằng chỉ số PCI) có vai trò gì trong việc thúc đẩy liên kết doanh nghiệp? Luận án lượng hóa tác động của chỉ số PCI tổng hợp và xác nhận rằng môi trường thể chế cấp tỉnh càng thông thoáng, minh bạch, chi phí phi chính thức càng thấp thì các doanh nghiệp trên địa bàn càng có xu hướng thiết lập liên kết kinh doanh với các DN FDI nhiều hơn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh Thư là công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, nhất quán về mặt phương pháp và thực chứng về vai trò của liên kết với DN FDI đối với sự tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của DNNVV ngành chế tạo Việt Nam. Bằng việc kết hợp dữ liệu mảng điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2012–2018 với chỉ số thể chế PCI và phương pháp hồi quy logit đa thức, tác giả đã chứng minh liên kết dọc là động lực quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp nội địa nâng chuẩn đầu vào nhập khẩu và mở rộng xuất khẩu đầu ra. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc hoạch định chính sách thu hút FDI thế hệ mới gắn liền với mục tiêu nâng cấp năng lực cho khối doanh nghiệp tư nhân trong nước.