Chương 1, luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước có liên quan đến tiếp cận tín dụng NH của DNNVV. Theo đó, DNNVV tiếp cận nhiều nguồn vốn khác nhau để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh nhưng đối với DNNVV tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam nhu cầu vay vốn tại NH chiếm tỷ lệ lớn. Tuy vậy, mức độ tiếp cận tại mỗi quốc gia, vùng, tỉnh có sự khác biệt. Các nhà khoa học đã sử dụng nhiều phương pháp phân tích định tính, định lượng để chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng NH của DNNVV với 03 nhóm yếu tố chính: môi trường và chính sách kinh tế vĩ mô, NH và DNNVV.
Trên cơ sở đó, luận án tổng hợp bảng tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng của những công trình nghiên cứu trước đó. Bên cạnh đưa ra đánh giá chung, luận án đã chỉ ra “khoảng trống tri thức” của các nghiên cứu trước đây và tiến hành bổ sung một phần nhằm hoàn thiện hơn cơ sở lý luận, thực tiễn trong nội dụng tiếp cận tín dụng NH của DNNVV. 17 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TIẾP CẬN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2. Cơ sở lý luận về tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế 2. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Cách xác định về DNNVV trên thế giới hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất, việc định nghĩa rõ DN nào là nhỏ và vừa rất linh hoạt tùy thuộc vào từng quốc gia, từng khu vực kinh tế. Theo tiêu chí phân loại của NH thế giới (World Bank), căn cứ vào quy mô có thể chia DNNVV thành ba loại: DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa. Các tiêu chí để phân loại DNNVV của World Bank chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hàng năm của DN.
Ngoài ra World Bank còn đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại DNNVV. Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank Nhân Doanh thu Quy mô vay trung bình Qui mô Tài sản viên hàng năm (tỷ đồng) công ty (tỷ đồng) (Người) (tỷ đồng) Siêu nhỏ < 10 < 2,2 < 2,2 < 0,22 Nhỏ < 50 < 66 < 66 < 2,2 < 22 (< 44 tỷ đồng đối với một Vừa < 300 < 330 < 330 số quốc gia tiên tiến) (Nguồn: Tổng hợp từ World Bank) (Quy đổi tỷ giá bình quân: 1USD = 22.000 VNĐ) Việc xác định quy mô DNNVV chỉ mang tính chất tương đối vì khái niệm còn chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành nghề, điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích phân loại DN trong từng thời kỳ nhất định cho các chính sách hỗ trợ. Phụ lục 01 trình bày Phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực theo các tiêu chí khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi nước việc phân loại DNNVV có khác biệt nhưng vẫn tuân theo một số tiêu chí cơ bản sau: số lượng lao động, tính 18 chất ngành nghề, quy mô vốn…Đây chính là cơ sở để tác giả làm rõ các tiêu chí cụ thể khi xác định DNNVV ở Việt Nam. Trước năm 1988, chưa có định nghĩa cụ thể nào được Chính phủ đưa ra, do vậy một số địa phương, tổ chức đã xác định DNNVV dựa trên các tiêu chí như: số lao động (dưới 500 người), giá trị tài sản cố định (dưới 10 tỷ đồng), số dư vốn lưu động (dưới 8 tỷ đồng) và doanh thu hàng tháng (dưới 20 tỷ đồng) (Lê Xuân Bá, 2006).
Văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định DNNVV được trình bày trong Công văn số 681/CP-KCN theo đó, DNNVV là những DN có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người. Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, ngành, lĩnh vực. Để hoàn thiện hơn cho khái niệm cũng như tránh những phân loại khác nhau giữa các tỉnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP trong đó đưa ra định nghĩa: “DNNVV là DN có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng VND và lao động dưới 300 người”. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về DNNVV, là cơ sở để các chính sách và biện pháp hỗ trợ cho DNNVV của cơ quan nhà nước, tổ chức trong và ngoài nước được triển khai.
Tiêu chí phân loại doanh nghiệp DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Tổng Tiêu chí Số LĐ Tổng vốn Số LĐ Số LĐ Tổng vốn vốn (tỷ (Người) (tỷ đồng) (Người) (Người) (tỷ đồng) đồng) I- Nông, Từ trên Từ trên Từ trên Từ trên 20 lâm nghiệp ≤ 10 ≤3 10 đến 100 3 đến 20 đến 100 và thuỷ sản 100 đến 200 II- Công Từ trên Từ trên Từ trên Từ trên 20 nghiệp và ≤ 10 ≤3 10 đến 100 3 đến 20 đến 100 xây dựng 100 đến 200 III- Thương Từ trên Từ trên Từ trên Từ trên 50 mại và dịch ≤ 10 ≤3 50 10 đến 50 3 đến 50 đến 100 vụ đến 100 (Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP) 19 Để hoàn thiện hơn nữa Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa và tiêu chí xác định DNNVV như sau: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Tuy vậy, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP đã có một điều chỉnh về tiêu chí phân loại DNNVV theo đó, bổ sung thêm tiêu chí về nguồn vốn, doanh thu đối với với DN siêu nhỏ; số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm của DN nhỏ và DN vừa trong các ngành nghề đều giảm; nguồn vốn, doanh thu đối với với DN nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có sự thay đổi theo hướng tăng lên so với Nghị định số 56/2009/NĐ-CP. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sử dụng định nghĩa và tiêu chí phân loại DNNVV Nghị định số 39/2018/NĐ-CP làm căn cứ (Bảng 2. Như vậy so sánh với tiêu chí phân loại DNNVV giữa World Bank và Việt Nam ta thấy: - Về số lượng lao động: không có sự chênh lệch quá lớn về quy định lao động phân theo quy mô DN.
- Về nguồn vốn: Đối với quy mô siêu nhỏ sự chênh lệch không lớn nhưng với quy mô nhỏ và vừa thì nguồn vốn theo World Bank quy định lớn hơn nhiều so với Việt Nam. Lý do, World Bank xây dựng quy mô vốn trên được tính dựa vào giá trị bình quân của tất cả các quốc gia trên thế giới bao gồm các quốc gia phát triển và đang phát triển. Như vậy, Việt Nam là 1 quốc gia đang phát triển nên quy mô DN còn khiêm tốn so với tiêu chuẩn World Bank, trong tương lai nếu có sự tăng trưởng mạnh trong nhóm DNNVV tiêu chí nguồn vốn có sự thay đổi tăng - đây là một mục tiêu phấn đấu của DNNVV nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Với những tiêu chí về DNNVV giống như các quốc gia trên thế giới, đặc điểm của DNNVV tại Việt Nam cũng có nhiều nét tương đồng nhưng vẫn mang đặc trưng riêng biệt, cụ thể: ❖ DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và năng lực tài chính nhỏ Với lượng vốn đầu tư giới hạn khoảng 100 tỷ đồng và số lượng lao động tối đa không quá 200 người nên quy mô của DN là tương đối nhỏ.
Điều này mang lại một số lợi thế cho DNNVV như sự dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, sự thu hồi vốn 20 nhanh. Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, bù lấp vào các khoảng trống mà các DN lớn để lại. Các DNNVV thường không đạt được lợi thế về hiệu quả về quy mô như các DN lớn. Hơn nữa, quy mô nhỏ và vấn đề minh bạch thông tin hạn chế cũng khiến cho các DN khó khăn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tư để huy động vốn từ các NH cũng như từ thị trường chứng khoán.
Vì vậy, các DNNVV phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và lợi nhuận giữ lại. ❖ Loại hình DN và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phong phú DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình DN như DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần…trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Với mọi ngành nghề từ nông lâm thủy sản, công nghiệp đến thương mại dịch vụ, các DNNVV đều tham gia sản xuất, cung ứng với quy mô, chất lượng sản phẩm, giá bán tùy thuộc vào khách hàng tiềm năng của DN. Nhờ quy mô nhỏ, có sự tập trung được nguồn lao động và nguyên vật liệu tại địa phương, dễ dàng đáp ứng được những thay đổi trong nhu cầu của thị trường, sản phẩm đa dạng với nhiều phân khúc thị trường khác nhau nên DNNVV phát triển nhanh chóng, là nhân tố đóng góp vào gia tăng việc làm, ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
❖ Chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế Nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của DN mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động ngắn hạn của thị trường. Do đó, DNNVV thường có xu hướng đi lệch so với sứ mệnh và mục tiêu đề ra ban đầu, thiếu sự điều chỉnh kịp thời, hợp lý. Trong thời đại khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đầu tư vào công nghệ sẽ làm tăng số lượng, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí trở thành điều kiện cốt lõi để giúp bất kỳ một DN nào muốn nâng cao năng lực cạnh tranh. Đối với DNNVV, do quy mô vốn có hạn nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất không được thường xuyên dẫn tới tình trạng công nghệ sản xuất lạc hậu.
Trình độ quản lý chủ DN không đồng đều, xuất phát điểm thấp nên năng lực điều hành hạn chế, sự nhạy bén trong kinh doanh chưa cao.