Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng chính sách ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Chương 2: Thực trạng chính sách ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Chương 3: Một số giải pháp về chính sách ươm tạo khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn hiện nay 6 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH ƢƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO 1. Các khái niệm cơ bản Ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là một khái niệm tương đối mới mẻ ở nước ta cho dù đã được phát triển tương đối đa dạng và sâu sắc ở các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới. Nó liên quan chặt chẽ đến những quan điểm về ươm tạo doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, vườn ươm doanh nghiệp.
Để có thể đi sâu phân tích làm rõ nội hàm hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, chúng ta cần thống nhất cách hiểu các khái niệm nói trên. Khởi nghiệp sáng tạo Hiện nay, cụm từ start-up đã trở nên phổ biến tuy nhiên nhiều người vẫn chưa phân biệt được start-up, tức là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, với khởi nghiệp hay lập nghiệp. Khởi nghiệp là quá trình hiện thực ý tưởng kinh doanh, bao gồm quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp trong vòng 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán. Trong khi đó khởi nghiệp sáng tạo là khởi nghiệp dựa trên nền của sáng tạo (dựa trên một công nghệ mới, hoặc tạo ra hình thức kinh doanh mới, hoặc xây dựng một phân khúc thị trường mới.
Tức là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải có sự khác biệt không chỉ với các doanh nghiệp ở trong nước, với tất cả các công ty trước đây và cả với các doanh nghiệp khác trên thế giới. Vì đặc điểm đó nên doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhanh chóng thu hút được đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nhanh, ví dụ như Facebook, Google chỉ trong 2-3 năm đã 7 z phát triển để trở thành các tập đoàn lớn. Tóm lại, khởi nghiệp sáng tạo (startup) là quá trình khởi nghiệp dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh. Ươm tạo doanh nghiệp Sự thành công của các doanh nghiệp trên thương trường luôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế quốc gia.
Những doanh nghiệp khi mới khởi sự thường gặp không ít khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Một trong những biện pháp quan trọng hỗ trợ các doanh nghiệp này tháo gỡ những khó khăn là tìm đến các nhà ươm tạo doanh nghiệp, nơi tạo ra thị trường, công nghệ, vốn cho những doanh nghiệp “chập chững” bước vào thị trường. Vấn đề ươm tạo là vấn đề quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới bởi vì ươm tạo doanh nghiệp là một công cụ hiệu quả nhằm tối đa hóa sự hình thành của các doanh nghiệp khởi nghiệp, góp phần tạo việc làm cho cộng đồng và thương mại hóa các ý tưởng kinh doanh,. Nói một cách khác ươm tạo doanh nghiệp là hoạt động hỗ trợ và nuôi dưỡng các doanh nghiệp trong giai đoạn mới thành lập, giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro thất bại trên thương trường.
Để ươm tạo các doanh nghiệp mà đặc biệt là những doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, những tổ chức có mục đích tạo một "lồng ấp", một môi trường "nuôi dưỡng" các doanh nghiệp khởi sự trong một thời gian nhất định để các đối tượng này có thể vượt qua những khó khăn ban đầu, khẳng định sự tồn tại và phát triển như những doanh nghiệp độc lập. Các loại hình hoạt động ươm tạo cũng khá đa dạng, có thể là ươm tạo ảo (virtual incubator), không gian làm việc chung (co-working spaces), tổ chức thúc đẩy kinh doanh (accelerators), hoặc hoạt động ươm tạo phổ biến nhất là vườn ươm (incubator). 8 z Ở các nước trên thế giới, khái niệm “vườn ươm doanh nghiệp” không xa lạ mà thực sự đã đóng vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Trên thực tế, khái niệm này đã được xuất hiện từ năm 1942 tại các trường học và các trường đại học nơi học sinh, sinh viên và các giáo sư đã có cơ hội để thử nghiệm và sử dụng kiến thức và nghiên cứu của họ để bắt đầu thành lập công ty.
Vườn ươm đầu tiên được biết đến bên ngoài các trường đại học là Trung tâm công nghiệp Batavia (BIC) ở Batavia, New York vào năm 1959 và các khái niệm chính thức về ươm tạo doanh nghiệp đã được phát triển từ đó. Ươm tạo doanh nghiệp khác với các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp khác ở chỗ nó cung cấp một môi trường “thực hành” đầy đủ và phù hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp. Các nguồn lực phát triển doanh nghiệp được cung cấp sẵn ngay chính tại các vườn ươm hoặc thông qua các mối quan hệ mạng lưới. Mục đích của vườn ươm doanh nghiệp không phải là hỗ trợ vô thời hạn, do đó, các vườn ươm thường định ra khoảng thời gian ươm tạo nhất định.
Xuất phát từ những lợi ích mà các VƯDN mang tới, đến nay các nước trên thế giới đã và đang tích cực đẩy mạnh phát triển VƯDN trong mỗi nước nói riêng và phát triển mạng lưới liên kết các vườn ươm mang tầm quốc tế và khu vực nói chung. Ngay cả các nước trong khu vực châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philipin cũng có tới hàng trăm vườn ươm khác nhau. Tại Việt Nam, khái niệm ươm tạo doanh nghiệp mới chỉ du nhập vào từ những năm 1996-1997 khi nói về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đến nay, khái niệm này không còn xa lạ đối với những người làm công tác xúc tiến phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam.
Không thể so sánh với nước Mỹ, nơi có trên 1.000 VƯDN và ngay cả các nước trong khu vực nơi có hàng trăm vườn ươm, nhưng con số 10 vườn ươm đang hoạt động tại Việt Nam quả là quá ít, và hơn thế nữa cũng chưa nhiều người biết đến chúng. Mặc dù được đánh giá là có triển vọng, nhưng để cho VƯDN của Việt Nam phát triển ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới, ngoài việc có một thị 9 z trường tốt, thì điều quan trọng nhất là phải có sự hỗ trợ từ Chính phủ, sự tham gia mạnh mẽ của các quỹ đầu tư mạo hiểm và các tập đoàn lớn sẵn sàng tiếp nhận những doanh nghiệp nhỏ và vừa, những công nghệ mới được ươm tạo. Các dịch vụ ươm tạo cung cấp dành cho doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay có thể kể đến bao gồm: (1) dịch vụ hành chính/văn phòng (hỗ trợ hành chính: trợ lý, lễ tân, thư kí,.; hỗ trợ văn phòng: in tài liệu, xử lý văn bản,.); (2) dịch vụ dựa trên cơ sở hạ tầng (cho thuê không gian làm việc; cho thuê hạ tầng viễn thông, internet; cho thuê trang thiết bị văn phòng; cho thuê phòng hội nghị/trang thiết bị nghe nhìn; cho thuê phòng thí nghiệm/trang thiết bị chuyên dụng; cho thuê phòng triển lãm; cho thuê nhà kho); (3) các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh (phân tích tính khả thi của công nghệ/sản phẩm; thu thập, phân tích các dữ liệu về thị trường/khách hàng; hỗ trợ phát triển mô hình kinh doanh/chiến lược kinh doanh/kế hoạch kinh doanh; tư vấn về quản lý doanh nghiệp; hỗ trợ thương mại hoá công nghệ/hoàn thiện sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường; hỗ trợ về pháp lý/giấy phép kinh doanh/đăng ký quyền sở hữu trí tuệ; logistics (hậu cần) và mua sắm; phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ trong phát triển văn hoá và đạo đức kinh doanh; phân tích tính khả thi của công nghệ/sản phẩm; thu thập, phân tích các dữ liệu về thị trường/khách hàng; hỗ trợ phát triển mô hình kinh doanh/chiến lược kinh doanh/kế hoạch kinh doanh); (4) dịch vụ tài chính và tiếp cận các nguồn tài chính (các dịch vụ quản trị/kế toán/tài chính; huy động vốn thông qua tiếp cận các nhà đầu tư mạo hiểm; tiếp cận các khoản vay thương mại - ngân hàng, doanh nghiệp; tiếp cận các khoản vay phi thương mại - khoản vay được hỗ trợ lãi suất,.; tiếp cận các trợ cấp/hỗ trợ từ chính phủ, nhà tài trợ; hỗ trợ thông qua quỹ nội bộ của vườn ươm; huy động đóng góp của cộng đồng; dịch vụ cổ phần hoá doanh nghiệp); (5) dịch vụ kết nối cộng đồng và xây dựng mạng lưới liên kết (kết nối với các nhà cố vấn/chuyên gia; kết nối với các trường đại học/viện nghiên cứu/doanh nghiệp/chính quyền/vườn ươm; xây dựng mạng lưới vốn và 10 z tài chính - thông qua các nhà đầu tư mạo hiểm, nhà tài trợ; xây dựng mạng lưới các nhà cung ứng/tiêu thụ; tổ chức các cuộc thi; xây dựng liên kết/hợp tác với đối tác chiến lược tiềm năng); (6) dịch vụ hỗ trợ giáo dục và tiếp cận tri thức (thực hiện các chương trình đào tạo về sáng tạo/khởi nghiệp/kinh doanh; huấn luyện kĩ năng mềm - thuyết trình, ra quyết định, làm việc nhóm,.; tổ chức chương trình E learning; tổ chức các hội thảo về các vấn đề thời sự/chuyên sâu liên quan đến phân tích thị trường, đánh giá công nghệ,.); (7) dịch vụ hỗ trợ xây dựng thương hiệu (hỗ trợ quảng bá sản phẩm - liên kết trang web, quảng cáo,.; tư vấn thiết kế và đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm; xây dựng chiến lược định vị thương hiệu; xây dựng chiến dịch truyền thông). Nói một cách tổng quát, ươm tạo doanh nghiệp là sự hỗ trợ việc khởi nghiệp từ giai đoạn hình thành ý tưởng, phát triển sản phẩm cho đến khi thành lập và phát triển doanh nghiệp thành công.
Ở cách nhìn này, các hoạt động được tính là hoạt động ươm tạo doanh nghiệp rất đa dạng và được thực hiện bởi rất nhiều chủ thể. Ươm tạo doanh nghiệp (business incubation) là quá trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong giai đoạn khởi nghiệp nhằm giảm thiểu chi phí ban đầu, hạn chế rủi ro, khắc phục những thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm về tổ chức, quản lý, mạng lưới liên kết, tiếp cận thị trường., nâng cao khả năng tồn tại (survival rate) và sự phát triển ổn định của doanh nghiệp sau khi kết thúc giai đoạn ươm tạo. Các lĩnh vực ươm tạo là đa dạng từ công nghệ thông tin - truyền thông; công nghệ vật liệu mới; cơ khí tự động hoá; công nghệ sinh học; thực phẩm và chế biến thực phẩm; công nghệ môi trường; đa ngành, đa lĩnh vực; nông nghiệp,… 1.