CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. Khái niệm, đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh 1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam không có quy định riêng về khái niệm văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh.
Mặc dù, Luật năm 2004 có quy định về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân nhưng sau khi Luật năm 2015 được ban hành thì khái niệm này không còn được sử dụng nữa. Do đó, để hiểu nội hàm của văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh theo quy định của Luật năm 2015 ta tìm hiểu một số nội dung sau: Một là, về khái niệm “văn bản QPPL”. Văn bản QPPL là công cụ quan trọng để CQĐP cấp tỉnh quản lý nhà nước. Giúp CQĐP cấp tỉnh truyền tải các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân.
Đồng thời, văn bản QPPL cũng giữa vai trò quan trọng trong việc tổ chức, thực hiện các quy định đó tại địa phương; điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh ở địa phương. Do đó, việc nắm rõ khái niệm văn bản QPPL có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền, nội dung ban hành văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh khi xây dựng, ban hành văn bản QPPL. Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của khái niệm văn bản QPPL và để khắc phục những hạn chế từ thực tiễn triển khai, Luật năm 2015 đã tách khái niệm “Văn bản 123doc 10 quy phạm pháp luật” và khái niệm “Quy phạm pháp luật”, theo đó văn bản QPPL là văn bản có chứa QPPL, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật năm 2015. Văn bản QPPL là tập hợp nhiều QPPL.
Trong đó, “quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi, lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành, được Nhà nước đảm bảo thực hiện”. Theo quy định, một văn bản có chứa QPPL nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật năm 2015 thì không phải là văn bản QPPL. Hai là, về “Chính quyền địa phương”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 111 Hiến pháp năm 2013, Điều 4 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 thì cấp CQĐP gồm có HĐND và UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính.
Có ba cấp đơn vị hành chính phổ biến là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và một cấp không phổ biến là đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Nhiệm vụ của cấp CQĐP là (i) tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương và (ii) quyết định các vấn đề của địa phương do luật định. Như vậy, Hiến pháp năm 2013 tăng tính tự quản cho CQĐP nhằm phát huy lợi thế của mỗi địa phương trên thực tế. Theo quy định trên, để thực hiện nhiệm vụ được quy định trong Hiến pháp thì CQĐP cấp tỉnh sẽ phải ban hành các văn bản QPPL nhằm cụ thể hóa, chi tiết hóa những quy định của Trung ương cho phù hợp với điều kiện địa phương, đảm bảo pháp luật được thực thi một cách đúng đắn, hiệu quả.
Bởi ban hành văn bản QPPL là hình thức pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nhà nước của CQĐP cấp tỉnh nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình5. Đây cũng là cơ sở để CQĐP 5 Trần Minh Hương, 2008. Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam. Trường Đại học Luật Hà Nội, trang 109 123doc 11 cấp tỉnh ban hành các chính sách đặc thù để thu hút, hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp với tình hình thực tế địa phương.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh như sau: Văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh là văn bản có chứa QPPL dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương do HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục pháp luật quy định và có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được nhà nước bảo đảm thi hành bằng biện pháp theo quy định pháp luật. Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh Từ khái niệm về văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh có thể nhận thấy văn bản QPPL có những dấu hiệu đặc điểm sau: Thứ nhất, hoạt động ban hành văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước ở địa phương. Đặc điểm này xuất phát từ vị trí, vai trò và nhiệm vụ được giao của CQĐP cấp tỉnh. Theo đó, Điều 113, 114 Hiến pháp năm 2013 và Điều 6, 8 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 xác định HĐND vừa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương vừa là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương.
HĐND có quyền quyết định các vấn đề của địa phương do luật định. Và UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính cấp trên. UBND có trách nhiệm tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND. Trong phạm vi thẩm quyền được giao, CQĐP cấp tỉnh ban hành văn bản QPPL để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Theo đó, HĐND cấp tỉnh ban hành văn bản QPPL để quy định chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. UBND cấp tỉnh ban hành văn bản QPPL để quy định biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát 123doc 12 triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương… Tất cả những cá nhân, tổ chức ở địa phương thuộc đối tượng điều chỉnh của những văn bản trên đều bắt buộc phải thực hiện. Chính vì vậy, có thể khẳng định hoạt động ban hành văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh là hoạt động gắn liền với nhà nước nhằm thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương. Thứ hai, văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh là sự cụ thể hóa các quy định pháp luật và văn bản QPPL của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương Đây là đặc điểm phản ánh bản chất của văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh.
Trên thực tế cho thấy, các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương không thể ban hành một văn bản QPPL phù hợp với tất cả những đặc điểm, điều kiện đặc thù từng địa phương trong cả nước. Do đó, cần có sự cụ thể hóa văn bản của Trung ương, cấp trên cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Mặt khác, do điều kiện tự nhiên, đất đai, văn hóa. mà mỗi địa phương có sự khác biệt, có những vấn đề chỉ có ở địa phương này mà không có ở địa phương khác.
Cho nên văn bản do Trung ương ban hành khó có thể được phù hợp với tất cả các địa phương trong cả nước. Trong trường hợp này cũng cần ban hành văn bản QPPL của địa phương trực tiếp điều chỉnh các vấn đề đó. Ví dụ, tại khoản 7 Điều 1 Nghị định số 149/2016/NĐ-CP ngày 11/11/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá giao thẩm quyền cho UBND tỉnh quy định giá tối đa đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Trên cơ sở quy định này, mỗi địa phương sẽ ban hành mức giá tối đa phù hợp tình hình thu nhập của người dân địa phương.
Thứ ba, văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi do mình quản lý Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, CQĐP cấp tỉnh có nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong mọi lĩnh vực tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương theo quy định của pháp luật. Như vậy, hoạt động ban hành văn bản QPPL quy định cụ thể việc thi hành pháp 123doc 13 luật là một trong những công cụ để CQĐP cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý xã hội. Ngoài ra, nhằm điều chỉnh một số quan hệ xã hội phát sinh mang tính đặc thù tại địa phương kịp thời thì trong phạm vi thẩm quyền của mình, CQĐP cấp tỉnh có thể ban hành văn bản QPPL để điều chỉnh những quan hệ xã hội nói trên. Ví dụ: để quản lý hệ thống các cửa hàng kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 08/2018/QĐ-UBND ngày 16 tháng 4 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định quản lý đầu tư xây dựng hệ thống cửa hàng kinh doanh xăng dầu, kho xăng dầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
Đối với nội dung này, không có văn bản nào trực tiếp giao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định quản lý đầu tư xây dựng hệ thống cửa hàng kinh doanh xăng dầu. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế địa phương UBND tỉnh có thể ban hành văn bản QPPL. Đây là quyết định của UBND tỉnh điều chỉnh hoạt động quản lý đầu tư xây dựng hệ thống cửa hàng kinh doanh xăng dầu, kho xăng dầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Thứ tư, văn bản QPPL của CQĐP cấp tỉnh chỉ có hiệu lực trên phạm vi địa giới hành chính của địa phương Đây là đặc điểm thể hiện tính hiệu lực về không gian của văn bản QPPL của CQĐP.
Theo đó, văn bản QPPL của HĐND, UBND ở đơn vị hành chính cấp nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính cấp đó và phải được quy định cụ thể ngay trong văn bản.