Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thương mại và dịch vụ 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thương mại và dịch vụ - Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Do những đặc thù được quy định bởi quy mô doanh nghiệp trong một nền kinh tế thị trường nên các doanh nghiệp có quy mô nhỏ là đối tượng của các chính sách hỗ trợ đặc biệt từ phía chính phủ. Để xác định rõ đối tượng của các chính sách hỗ trợ này cần có những tiêu chí cụ thể.
Người ta gọi đó là các tiêu chí về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo EU, doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một công ty độc lập có không quá 250 lao động hoặc doanh thu hàng năm không quá 40 triệu Euro hoặc tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán không quá 27 triệu Euro”. Quỹ phát triển Khu vực Châu Âu quy định như sau: “Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những Công ty sử dụng ít hơn 270 người, có doanh thu nhỏ hơn 50 triệu Euro hoặc tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán không quá 43 triệu Euro”. Theo các tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (World Bank) thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được qui định như sau: - Doanh nghiệp vô cùng nhỏ là doanh nghiệp có đến 10 lao động, tổng tài sản giá trị không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100.
- Doanh nghiệp nhỏ là các doanh nghiệp không quá 50 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 3 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3 triệu USD. 10 - Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp không quá 300 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hằng năm không quá 15 triệu USD. Việc xác định quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các nước trên thế giới chỉ mang tính tương đối vì nó chịu tác động của một loạt các yếu tố như trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành nghề, điều kiện phát triển của vùng lãnh thổ, tương quan mặt bằng giá lao động, giá thiết bị hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kì nhất định. Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và các cách phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng khác nhau qua từng thời kì phát triển đất nước.
Mặc dù đã có sự quan tâm đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, song cho đến trước năm 1998, vẫn chưa có khái niệm chính thức hay qui định tiêu chí cụ thể nào về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó lúc này mỗi một tổ chức, địa phương đưa ra một quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đến ngày 20/6/1998, Chính phủ mới ban hành Công văn số 681/CP- KTN để xác định tiêu chí cho một doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Các tiêu chí trong Công văn này là căn cứ pháp lý quan trọng đầu tiên chính thức xác định các đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Việc xác định theo tiêu chuẩn trên không tính đến hình thức sở hữu của các doanh nghiệp. Ngày 23/11/2001, Chính phủ ban hành Nghi định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong Nghị định này Chính phủ đã đưa ra một định nghĩa chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa để các ban ngành, địa phương có căn cứ xác định đối tượng được Chính phủ trợ giúp phát triển. Theo định nghĩa này, “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
11 Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng kí kinh doanh và thoả mãn 2 tiêu chí và vốn và lao động như trên đều được là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Tuy nhiên, tiêu chí phân loại vẫn chưa rõ ràng. Ưu điểm của cách phân loại trên là đơn giản, dễ phân loại và sử dụng, nhưng có hạn chế là quy mô của doanh nghiệp được xác định qua chỉ tiêu vốn đầu tư thực hiện thường thay đổi; tiêu chí vốn thường không phân biệt đối với đặc tính của từng ngành nghề, tiêu chí lao động biên độ quá lớn, không theo ngành nghề, vốn v.v… Dùng chỉ tiêu này để hoạch định chính sách trợ cấp giúp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có tính hiệu quả chưa cao. Do vậy, ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP thay thế cho nghị định số 90/2001/NĐ-CP, ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tại điều 3, doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo qui định pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo qui mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 56 được quy định cụ thể hơn theo ngành nghề, chia quy mô doanh nghiệp thành nhiều cấp, với số vốn và lao động tương ứng, góp phần lợi thuận lợi hơn trong việc trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo cách phân loại này, số doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp hiện có tại Việt Nam. Tuy nhiên, xét cho cùng thì việc phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa như trên chỉ có tính chất tương đối. Chung quy lại doanh nghiệp nhỏ và vừa là chỉ loại doanh nghiệp có số vốn, quy mô, doanh thu nhỏ, sử dụng ít lao động.
12 - Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thương mại và dịch vụ là doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động trong lĩnh vực bán buôn (cả xuất, nhập khẩu do sở Công thương tỉnh quản lý); bán lẻ; bán, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy. Theo tiêu chí phân loại theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của chính phủ, cụ thể như sau: Quy mô Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tổng Số lao Tổng Số lao nguồn vốn động nguồn vốn động Khu vực Thương mại và từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 10 tỷ đồng dịch vụ và dịch người đến đồng đến 50 người đến trở xuống vụ 50 người tỷ đồng 100 người 1. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ Cũng như phát triển các loại hình doanh nghiệp khác, doanh nghiệp nhỏ và vừa có những đặc tính nhất định trong quá trình hình thành và phát triển. Một là, với đặc thù: quy mô vốn nhỏ, sử dụng ít lao động, dễ dàng thích nghi với các thành phần kinh tế vì vậy trong nền kinh tế thị trường phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thường theo xu hướng phát triển nhanh về số lượng trong thời gian ngắn, dễ dàng tìm kiếm lợi nhuận từ các khoảng “trống” của thị trường, tiếp cận vào thị trường “ngách” nhất là trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế.
Tuy nhiên, do doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, chủ doanh nghiệp thường chú trọng lợi nhuận nên cũng thường tập trung kinh doanh mặt hàng và khai thác các thị trường có thể thu lợi nhuận 13 cao hơn nên tính ổn định trong kinh doanh không cao dễ bị thâu tóm, phá sản, ngưng hoạt động khi nền kinh tế có biến động. Hai là, vốn đầu tư cho danh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là vốn tư nhân, tổ chức ngoài Nhà nước. Vì vậy, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thường khó khăn trong huy động vốn dẫn tới tiềm lực, sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp thấp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa tiềm lực tài chính không mạnh sẽ khó, thậm chí ít có khả năng tiếp cận ứng dụng khoa học - công nghệ mới để tạo ra sản phẩm, hàng hoá có giá trị gia tăng cao dẫn đến hiệu quả đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của loại hình doanh nghiệp này thường chiếm tỷ trọng thấp.
Mặt khác do năng lực tài chính hạn chế, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chú trọng đến lợi ích kinh tế ít quan tâm đến vấn đề lợi ích của người tiêu dùng, lợi ích của xã hội và dễ nảy sinh những hiện tượng gian lận thương mại và dịch vụ. Ba là, Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thường khó khăn về mặt bằng sản xuất, kinh doanh. Về bản chất, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là loại hình doanh nghiệp tư nhân, do bản thân cá nhân và gia đình phát triển lên do vậy ít, hoặc hiếm có doanh nghiệp nào có diện tích đất hay mặt bằng đủ để hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cần thiết phải có cơ chế chính sách tác động tốt giải quyết mặt bằng và đất đai thông qua quy hoạch các khu thương mại và dịch vụ, chợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.
Bốn là, doanh nghiệp nhỏ và vừa nguồn lực lao động chất lượng thấp, tỷ lệ đã qua đào tạo thấp, chủ yếu qua phương thức truyền nghề nên việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó khăn. Nguồn lực lao động rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp. Tuy nhiên, đa phần doanh nghiệp nhỏ và vừa phần lớn đi lên từ hộ kinh doanh cá thể sử dụng chủ yếu là lao động phổ thông, ít hoặc chưa qua đào tạo dẫn tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kém. 14 Năm là, doanh nghiệp nhỏ và vừa bị phụ thuộc vào các doanh nghiệp lớn trong quá trình phát triển về thương hiệu, thị trường, công nghệ, tài chính do vậy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đảm bảo sự liên kết giữa nhóm, loại hình doanh nghiệp.
Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ hoạt động sản xuất gia công nhỏ lẻ, kinh doanh xuất, nhập khẩu theo dạng tiểu ngạch là chủ yếu do vậy ít có doanh nghiệp xây dựng thương hiệu mà chủ yếu chỉ làm trung gian cho các doanh nghiệp lớn dẫn tới bị phụ thuộc về thị trường cũng như giá cả, tính bền vững thấp.