Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh Saravanh đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở tỉnh Saravanh, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào, doanh nghiệp cũng là đơn vị cơ sở, một tế bào của nền kinh tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất. Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin các hình thức tổ chức doanh nghiệp cũng ngày càng đa dạng và các loại hình sở hữu của doanh nghiệp cũng ngày càng phong phú hơn. Do đó, nếu đứng trên quan điểm khác nhau chúng ta có thể định nghĩa về doanh nghiệp cũng khác nhau: Xét theo quan điểm luật pháp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tƣ cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tƣ do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nƣớc bằng các loại luật và chính sách thực thi.
Xét theo quan điểm chức năng (quan điểm của M.Francois Peroux - nhà kinh tế học ngƣời Pháp): doanh nghiệp đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó ngƣời ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trƣờng những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận đƣợc khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. Xét theo quan điểm phát triển thì “doanh nghiệp là một cộng đồng ngƣời sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vƣợt qua những thời kỳ nguy kịch và ngƣợc lại có lúc phải 6 ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vƣợt qua đƣợc Xét theo quan điểm hệ thống: “doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận đƣợc tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thƣơng mại, tổ chức, nhân sự”.
Trên phƣơng diện lý thuyết còn có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp. Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm doanh nghiệp đƣợc xác định rất đơn giản “là đơn vị kinh doanh, nhƣ xí nghiệp, công ty, v. Thực chất thì doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình doanh nghiệp, trong đó công ty là một loại hình doanh nghiệp và nó rất phổ biến. Trên thế giới, so với các loại hình doanh nghiệp khác, thì công ty xuất hiện muộn hơn, vào khoảng giữa thế kỷ 19.
Trƣớc đó, các hoạt động kinh doanh thực hiện dƣới hình thức hợp danh hoặc doanh nghiệp tƣ nhân. Cũng kể từ thế kỷ XIX và đặc biệt trong nửa đầu thế kỷ XX , công ty là loại hình kinh doanh phát triển mạnh mẽ nhất. Nhiều nƣớc trên thế giới hiện nay, thay vì thiết lập luật doanh nghiệp, đã thiên về quy định tổ chức và hoạt động của các loại hình công ty. Theo quan điểm của các nƣớc tƣ bản, công ty là một tổ chức kinh tế đƣợc thành lập theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái vụ của công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công ty.
Công ty đƣợc thành lập dựa trên một thỏa thuận về quản lý điều hành, thƣờng gọi là điều lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn và đƣợc thừa nhận là pháp nhân ở hầu hết các nƣớc. Nhƣ vậy, dù định nghĩa ở góc độ mở rộng là doanh nghiệp hoặc xem xét ở góc độ hẹp là công ty, thì hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh. Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dƣới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về 7 doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phƣơng diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trƣờng, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải đƣợc cấu thành bởi 4 yếu tố sau đây: yếu tố tổ chức, yếu tố sản xuất, yếu tố trao đổi, yếu tố phân phối.
Theo Luật doanh nghiệp năm 2014 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [14]. Theo Luật Doanh nghiệp của nƣớc Cộng hòa nhân chủ nhân dân Lào năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2012, doanh nghiệp là tổ chức kinh doanh của một người hoặc pháp nhân có tên riêng, có vốn, tài sản, có hệ thống quản lý, có trụ sở, và được đăng ký phù hợp với Luật này. Doanh nghiệp còn đƣợc gọi là “Đơn vị kinh doanh”; [14]. Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu doanh nghiệp là đơn vị kinh tế, quy tụ các phƣơng tiện tài chính, vật chất và con ngƣời nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của ngƣời tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội dƣới sự quản lý của nhà nƣớc.
Vai trò của doanh nghiệp Doanh nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nƣớc, kể cả các nƣớc có trình độ phát triển cao. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt nhƣ hiện nay, các nƣớc đều hỗ trợ các doanh nghiệp nhằm tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm. Sự phát triển của doanh nghiệp đã thực sự góp phần quan trọng trong giải quyết những mục tiêu kinh tế - xã hội, đƣợc thể hiện thông qua các vai trò sau đây: Một là, doanh nghiệp tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nƣớc. 8 Ngân sách nhà nƣớc đƣợc hình thành từ nhiều nguồn thu khác nhau nhƣ: khai thác tài nguyên quốc gia, các khoản viện trợ, thu thuế, phí.
Trong các nguồn thu đó, các khoản thu thì phí thƣờng rất nhỏ, các khoản viện trợ thì không thƣờng xuyên. Mặt khác, tuy việc khai thác tài nguyên để xuất khẩu thƣờng tạo ra đƣợc mức thu ngoại tệ khá lớn nhƣng tài nguyên vốn hữu hạn. Vậy nên, các khoản thu thuế từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn đƣợc coi là nguồn thu bền vững, ổn định và quan trọng nhất của các quốc gia. Hai là, doanh nghiệp đóng góp quan trọng vào tăng trƣởng kinh tế Nền kinh tế đƣợc cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau: ngân sách nhà nƣớc, dự trữ quốc gia, tài nguyên quốc gia và hệ thống doanh nghiệp.
Trong đó, doanh nghiệp là yếu tố duy nhất có khả năng khai thác và nâng cao giá trị của tài nguyên, đóng góp vào ngân sách và nguồn dự trữ quốc gia. Có thể thấy trong các yếu tố này doanh nghiệp là tổ chức duy nhất có hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpvì lợi nhuận của các nhà đầu tƣ và đóng thuế cho ngân sách nhà nƣớc. Vì vậy, hoạt động của doanh nghiệp sẽ tạo ra sự tăng trƣởng cho nền kinh tế, thông qua các hoạt động của doanh nghiệp các nguồn lực của xã hội đƣợc huy động và khai thác. Doanh nghiệp chính là mô hình thực sự cho việc phát triển kinh tế đất nƣớc, là nơi có khả năng thu hút đƣợc nhiều nguồn vốn đầu tƣ của xã hội.
Việc doanh nghiệp tích cực đầu tƣ vào đổi mới tài sản cố định, đổi mới thiết bị công nghệ sẽ tạo động lực cho sự tăng trƣởng của chính các doanh nghiệp, quyết định sự tăng trƣởng cao của nền kinh tế. Ba là, doanh nghiệp tạo ra việc làm cho ngƣời lao động. Có thể thấy, nguồn lực cơ bản không tách rời sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp là lực lƣợng lao động. Tùy thuộc vào tính chất ngành nghề sản xuất kinh doanh mà yêu cầu về số lƣợng và chất lƣợng lao động trong các doanh nghiệp có những tiêu chuẩn khác nhau.
Sự đa dạng về ngành nghề, quy mô kinh doanh trong các doanh nghiệp là cơ hội việc làm của mọi đối tƣợng lao động ở các trình độ khác nhau. Có những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, cung ứng công nghệ cao đòi hỏi hàm lƣợng khoa học khoa học cao sẽ sử dụng lao động có 9 trình độ chuyên môn sâu. Có những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa tiêu dùn đơn giản sẽ sử dụng lao động phổ thông. Do đó, doanh nghiệp là nơi tạo việc làm cho mọi đối tƣơng lao động ở những trình độ và điều kiện lao động khác nhau.
Nhƣ đã đề cập ở trên, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có chức năng chủ yếu là sản xuất kinh doanh. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp gắn liền với việc sử dụng lao động. Trong chiến lƣợc kinh doanh của mình, doanh nghiệp có thể thực hiện đào tạo trƣớc hoặc trong khi sử dụng lao động với những loại hình đào tạo ngắn hạn, dài hạn khác nhau. Sự ổn định về số lƣợng, đảm bảo về chất lƣợng lao động vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của phát triển kinh doanh bền vững.
Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, việc thu hút và giữ chân ngƣời lao động là một trong những chiến lƣợc của doanh nghiệp. Thông qua việc đào tạo, áp dụng các chính sách lƣơng, thƣởng hợp lý để khơi dậy và phát huy sự sáng tạo, tính trách nhiệm của ngƣời lao động trong doanh nghiệp.