CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến quản lý nhà nước đối với công ty lâm nghiệp nhà nước 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài có liên quan đến quản lý nhà nước đối với công ty lâm nghiệp nhà nước - Xie Zhizhong (2001), đã thực hiện nghiên cứu về: Cải cách vốn tín dụng đầu tư của CTLNNN ở Trung Quốc. Nghiên cứu này đưa ra định nghĩa về hoạt động và các đặc điểm quan trọng của vốn trong lâm nghiệp.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Vốn đầu tư là yếu tố quan trọng đẩy mạnh cải cách các CTLNNN và tăng cường kinh tế lâm nghiệp nói chung, góp phần thúc đẩy việc xây dựng và cải tiến các hệ thống lâm nghiệp hiện đại, có lợi cho cơ cấu ngành lâm nghiệp và cơ cấu CTLNNN. Sự điều chỉnh này ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển và mở rộng của các CTLNNN ở Trung Quốc. - Wan Zhifang (2004), đã thực hiện nghiên cứu về: Những trở ngại chính và các lộ trình cải cách các CTLNNN ở Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Để thay mô hình tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của CTLNNN cần phải giảm dần sự đầu tư của Nhà nước và tăng cường xã hội hóa trồng rừng, chế biến kinh doanh lâm sản.
- Chen Zhiju (2005), đã thực hiện nghiên cứu về: Hiệu quả của các CTLNNN ở Trung Quốc, đã kết luận rằng, để đáp ứng nhu cầu của chiến lược quản trị DN trong thời đại kinh tế tri thức, việc thành lập và xây dựng hệ thống chi tiêu đánh giá hiệu quả chiến lược của CTLNNN phải xuất phát từ điều kiện và hiện trạng rừng, kinh tế, sinh thái và xã hội của Quốc gia. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá CTLNNN bao gồm các chỉ tiêu về tài chính và phi tài chính theo các đặc điểm của từng công ty. Mako và Chunlin Zhang (2004), đã thực hiện nghiên cứu về: Những đổi mới trong việc thực hiện quyền của CSH nhà nước ở Trung Quốc. Nhóm tác giả cho rằng khung thể chế về thực hiện quyền của CSH nhà nước hầu như không có thay đổi.
Quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là CSH với DNNN vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Do đổi mới DNNN ở Trung Quốc chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa Nhà nước và DNNN, chưa quan tâm đến mối quan hệ giữa CSH cuối cùng, nhân dân và Nhà nước. Nhà nước tự do sử dụng chức năng CSH để đạt được các mục tiêu kể cả mục tiêu tài chính và dễ dàng kiểm soát DNNN để thực hiện nhiều mục tiêu khác nhau và điều này cũng dẫn đến quyền của CSH nhà nước được chia sẻ giữa các cơ quan của Chính phủ mà mỗi cơ quan này thực hiện những chức năng khác nhau của Nhà nước (Nguyễn Thị Luyến. Nội dung nghiên cứu này tuy không đề cập cụ thể vai trò của từng ngành, song nó rất cần để nghiên cứu xem xét đánh giá QLNN đối với CTLNNN trên khía cạnh thực hiện chức năng quản lý của CSH.
- Zhou Wei (2014), đã thực hiện nghiên cứu về: Kiểm soát nội bộ các CTLNNN ở Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu giới thiệu lý thuyết kiểm soát nội bộ kế toán trong các CTLNNN và tầm quan trọng của việc tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ các CTLNNN từ đó đưa ra một số gợi ý về các biện pháp tự vệ để kiểm toán nội bộ các CTLNNN, củng cố và hoàn thiện kế toán kiểm soát nội bộ các CTLNNN. - Danyun Xu Lei Wang &Jun Chang Liu (2015), đã thực hiện nghiên cứu về: Hiệu quả xã hội của các CTLNNN ở Trung Quốc. Nội dung nghiên cứu tập trung vào hiệu quả xã hội của các trang trại lâm nghiệp quốc doanh.
Kết quả nghiên nghiên cứu cho rằng: Kết hợp các giá trị xã hội của rừng và các phương pháp tiếp cận trách nhiệm xã hội và từ đó đề xuất giải pháp cho việc tích hợp hiệu quả xã hội vào các chính sách quản lý rừng bền vững. - OECD (2005b), đã thực hiện nghiên cứu về: Quản trị DN của các DNNN, nghiên cứu trường hợp các quốc gia trong khối OECD. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng: Chủ thể thực hiện chức năng CSH nhà nước đối với DNNN có sự 9 khác nhau giữa các nước, phụ thuộc vào hệ thống tổ chức hành chính truyền thống của nước đó, tầm quan trọng của khu vực Nhà nước trong nền kinh tế cũng như xu hướng đổi mới trong thực hiện các quy định quản lý tài sản Nhà nước. Nội dung nghiên cứu này có giá trị tham khảo để đánh giá QLNN đối với CTLNNN trên khía cạnh thực hiện chức năng quản lý của CSH.
Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước có liên quan đến quản lý nhà nước đối với công ty lâm nghiệp nhà nước - CIEM (2002), đã thực hiện nghiên cứu về: Tình hình thực hiện Quyết định số 187/1999/QĐ-TTg về đổi mới tổ chức và quản lý cơ chế quản lý LTQD tại miền Trung và Tây Nguyên. Nội dung chính của báo cáo tập trung nghiên cứu về kết quả thực hiện Quyết định số 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/21999 của Chính phủ tại các LTQD tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên từ đó tìm ra các tồn tại và bất cập để đề ra các giải pháp tiếp tục đổi mới các LTQD. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số tồn tại và bất cập như: Các văn bản pháp luật về sắp xếp LTQD vừa thừa, vừa thiếu không thống nhất; hướng dẫn chậm, kiểm tra chậm do chưa có sự đồng bộ giữa các cán bộ cơ quan trong tỉnh và giữa các tỉnh trong khi triển khai Quyết định trên. Từ những tồn tại trên, báo cáo kiến nghị một số giải pháp như: Ổn định tổ chức cho các CTLNNN; rà soát rừng và đất rừng của các CTLNNN; hoàn thiện cơ chế hoạt động, điều kiện kinh doanh và chuyển đổi một số CTLNNN sang hoạt động dịch vụ hỗ trợ phát triển lâm nghiệp xã hội vùng.
- Trần Hữu Quang (2004), đã thực hiện nghiên cứu về: Tổ chức và chính sách đối với LTQD: Thực trạng và giải pháp. Đề tài đã đề cập đến QLNN đối với LTQD dưới góc độ chính sách. Kết quả đề tài đã cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản về LTQD và phân tích đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý và các chính sách đối với LTQD. Đề xuất một số kiến nghị đổi mới một chính sách giải pháp cụ thể là: Tổ chức quản lý, sử dụng đất và rừng; xây dựng điều chỉnh lại quy hoạch và sử dụng đất cho các CTLNNN; thực hiện giao đất, cho thuê đất; giao rừng và khoán; Chính sách về huy động vốn; chính sách KHCN; chính sách đào tạo cán bộ và tay nghề cho người lao động trong LTQD.
Đề tài đã phát hiện ra nhiều vấn đề liên quan cần xử lý để hoàn thiện các hình thức khoán trong NLTQD thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng khoán kết hợp với phân tích hiệu quả kinh tế của NLTQD đã áp dụng hình thức khoán, từ đó, đề tài đã đề xuất các nhóm giải pháp gồm: hoàn thiện nội dung và cơ chế khoán tập trung vào đối tượng nhận khoán; thời gian và diện tích giao khoán vườn cây; cơ chế phân chia trách nhiệm và quyền lợi cho người nhận khoán, giải pháp về quy hoạch đất đai; đổi mới bộ máy và cơ chế quản lý phối hợp với công tác điều hành các hoạt động khoán; giải pháp về chính sách khoán, giải pháp về chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) cho người nhận khoán. - Chu Tiến Quang (2007), đã thực hiện nghiên cứu về: Vai trò của Nhà nước trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho các DN ở nông thôn. Nội dung nghiên cứu chi ra rằng vai trò của Nhà nước rất quan trọng đối với việc việc tạo dựng, duy trì và phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh để tạo điều kiện cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở nông thôn được hình thành, phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa cấp bách, vừa lâu dài. Do đó, tác giả bài viết đã đề xuất trong công cuộc cải cách hành chính cần đưa nội dung về nâng cao vai trò của các cấp chính quyền, các cơ quan QLNN về cạnh tranh vào chương trình đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ QLNN trong việc thừa hành trách nhiệm theo đúng yêu cầu của pháp luật.
Lê Trọng Hùng (2008), đã thực hiện nghiên cứu về: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển thị trường quyền sử dụng đất rừng sản xuất ở Việt Nam. Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và đánh giá tổng kết thực tiễn về chính sách quyền sử dụng đất rừng ở Việt Nam. Nghiên cứu có ý nghĩa đề xuất giải pháp hỗ trợ phát triển SXKD cho ngành lâm nghiệp, tạo căn cứ cần thiết cho quá trình sắp xếp đổi mới các LTQD. Những giải pháp chính đã đề cập gồm: chính sách về đất đai, chính sách về tín dụng.
11 - Trần Tiến Cường (2008), đã thực hiện nghiên cứu về: Đổi mới nội dung và phương thức quản lý, giám sát của Nhà nước đối với DNNN phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và cam kết gia nhập WTO. Kết quả nghiên cứu đã xác định nội dung và phương thức quản lý và giám sát của Nhà nước đối với các loại hình DNNN phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và cam kết gia nhập WTO. Nội dung quản lý, giám sát Nhà nước đối với DNNN tập trung vào: Sắp xếp, chuyển đổi DNNN; các hoạt động tài chính, đầu tư, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích của DNNN; cán bộ quản lý DNNN và tổ chức bộ máy quản lý. - Trần Hữu Dào (2008), đã thực hiện nghiên cứu về: Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD cho các DN lâm nghiệp đang hoạt động theo Luật DN.
Đề tài đã đánh giá thực tiễn quá trình chuyển đổi các LTQD sang DN lâm nghiệp hoạt động theo Luật DN 2005. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự chuyển đổi này đã phát huy tác dụng và phù hợp với điều kiện thực tiễn, hiệu quả sản xuất của DN được nâng lên, tổ chức SXKD và quản lý đã được đổi mới và hiệu quả hơn. Những đề xuất chính của nghiên cứu gồm: Đổi mới mô hình phát triển các CTLNNN; đề xuất các hướng và giải pháp cổ phần hoá các CTLNNN.