Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Phát triển bền vững và quan lý rừng bền vững trên thé giới 1. Phát triển bền ving 'Vào đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển ing lần đầu tiên được sử dụng trong chiến lược bảo tồn thé giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quy động vật hoang dã thé giới và Chương. trình Liên Hiệp Quốc dé xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO va FAO với nội dung ` Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới sự phát triển kinh tế mà còn phải tôn trong những nhu cầu tắt yêu của xã hội và sự tac động đến mội trường sinh thái hoc” [36] Khái niệm này được phổ biến rộng rải vào năm 1987 nhờ báo Our Common Future của Uy ban môi trường và Phát triển thé giới -WCED (nay là Uy ban Brundtland).
Báo cáo này ghi rõ: "Phát triển bản vững làsự phát triển có thé đáp ứng được những như cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tần tại đến những khả năng đáp ứng như cầu của các thé hệ tương lai|33]. Nồi cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo sự phát triển kinh tế có hiệu quả, xã hội công bằng và mội trường được bảo vệ. Dé đạt được điều này, tit cả các. thành phan kinh tế - xã hội, các chính quyền, các tổ chức xã hội phải cùng.
nhau hợp tác nhằm dung hoà cả 3 mục tiêu Kinh tế - xã hội - môi trường. Khai niệm này sau này còn tiếp tục được mở rộng thêm và nội hàm của nó chứa sự bình đẳng giữa các nước giảu và nước nghèo, giữa các thé hệ. “Thậm trí nó còn bao hàm sự can thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện nhằm giải phóng nguồn tài chính can thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững. Quản lý rừng bén vững và các tổ chức quản lý rừng bén vững.
Nỗ lực dau tiên trong quản lý rừng bền vững được thực hiện là thành lập hệ thống rừng trang trai tại Hoa Kỳ (ATFS). Năm 1941, Hội Lâm Nghiệp Hoa Kỳ cam kết duy tì các khu rừng, khu vue đầu nguồn và nơi cư trú của động vật thực vật thông qua năng lực của đơn vị quan lý tư nhân. ATFS đã xây dựng các hướng dẫn và tiêu chuẩn cho các chủ sở hữu để đáp ứng nhu cầu trở thành trang trại có rừng được chứng nhận. Theo tiêu chuẩn vả hướng dẫn này, các chủ đất rừng tư nhân phải xây dựng kế hoạch quản lý dựa trên các tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ và phải thông qua xét duyệt của cán bộ lâm nghiệp tình nguyện của ATFS 5 năm một lin, ATFS đã công nhận chúng chỉ cho 24 triệu mẫu Anh đắt rừng thuộc sở hữu tư nhân và 90473 chủ sở hữu rừng tư nhân tại 46 tiểu bang [6] Tiếp đó là Hội Đồng Quản Trị Rừng Thế Giới (FSC) được t lành lập.
1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau tir 25 quốc gia, bao gồm đại điện các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành công nghiệp và cơ quan cấp chứng chỉ. Nhiệm vụ của FSC là thúc đây việc quản lý rừng trên thé g Gi một cách hợp lý về mặt môi trường, có lợi ích về mặt xã hội và có thể thực hi ip dụng những tiêu chuẩn í về quản lý rừng đối với tất cả các loại rừng trên Thể giới thông qua một chương trình uy n mm tình nguyện cho các. cơ quan cấp chứng chỉ. Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập, như PAN-EUROPEAN ở châu Âu (có trụ sở ở Helsinkiy; CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tố) cắp chứng chỉ cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (Tổ chức quốc tế gỗ nhiệt đới) cấp chứng chỉ cho rừng tụ nhiên nhiệt dé.
Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiề hội nghị, đề xuất và cam kết nhiễu công ước bảo vệ và phít triển rừng bén vững, như Chiến lược bảo tổn quốc tế (1980); Hội nghị của Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển (1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiểm (CITET); Công ước đa dạng sinh học (CBD). Từ đó nhiều định nghĩa vẻ QLRBV đã được dua ra, tuy nhiên hai định nghĩa pho biển nhất và được công. nhận rộng rãi nhất là của ITTO và của tiến trình Hensiki. ‘Theo ITO * Quan lý rừng in vững là quá trình quản lý những lâm phân ôn định nhằm đạt được một hoặc nhiéu mục tiêu quản lý đề ra một cách 76 rằng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dich vụ mong muốn mà không làm giảm đẳng kể những giá trị di truyền và năng suất trong tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muẫn đất với môi trường tự nhiên và xã hội” ‘Theo tiến trình Helsinki“ Quản lý rừng bén vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính da dang sinh học, nang suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với he xinh thái khác”.
Các định nghĩa trên đều tập trung vào các vấn dé chính là: Quản lý rừng ôn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt được mục tiêu dé ra, đảm. bảo bền vững kinh tế, môi trường và xã hội. Các yếu tố QLRBV là: (i) CO khuôn khổ chính sách và pháp lý; (ii) Sản xuất bền vững (iii); Bảo vệ được. môi trường; (iv) Đảm bảo lợi ích con người| 5] “Trên thé giới có các bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bén vũng cấp quốc gia như ở Canada, Malaysia, Indoneixa., và cấp quốc tế như của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal, FSC và ITTO được vận dụng rất rộng rãi dé đánh giá quản lỷ rừng ở nhiều nước.
‘Tuy nhiên, theo bản báo cáo của ITTO đã thừa nhận FSC “Gan như là chương trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ws quyền đổi với lâm phân trên toàn thé giới”. Số lượng it öi các cơ quan được cắp chứng chỉ rừng do FSC uy qquyỄn trước đây đã là một hạn chế trong việc phát trién chứng chỉ gỗ và ngày nay đã được FSC khắc phục hậu quả bằng việc gia tăng uỷ quyền cho các tổ. chức cấp chứng chỉ rừng. Hiện nay có 31 tổ chức được FSC uy quyền cấp.
chứng chi FSC, thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực S năm và luôn kiểm tra chất lượng. Tiêu chuẩn cắp chứng chỉ có 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí, các tiêu chí vẫn luôn được xem xét, cân nhắc để chỉnh sửa thông qua đề đạt ccủa các thành viên FSC và lay biểu quyết trong các kỳ đại hội|39] Hội đồng PEFC (Chương trinh chứng nhận các tổ chức chứng chỉ ng) là một tổ chức độc lập, phi lợi nhận, phi chính phủ được thành lập năm 1999, hoạt động thúc đây quản lý rừng bền vũng thông qua việc chứng nhận. PEFC đưa ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác QLRBV. PEFC là chương trình quy mô.
toàn cầu về đánh giá và công nhận lẫn nhau của các tô chức chứng chỉ quốc. gia đã được phát triển trong quá tình có các bên tham gia|6]. Chúng chỉ rừng và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm Vin đề cấp chứng chỉ rừng chỉ là một biện pháp để đảm bảo quản ly rừng bền vũng tuy nhiên nó cũng không thể thay thé hoàn toàn các công cụ khác như hệ thống pháp luật, io dục và tuyên truyền. Chứng chỉ rừng ti động vào đơn vị quản lý rừng, do đó không ảnh hưởng đến lập kế hoạch sử.
dung đất và chính sách quốc gia. Việc sử dụng các công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường được các chuyên gia kinh tế và các Tổ chức Hợp tác Phát Triển Kinh Tế (OECD) và ngân hàng Thể Giới khuyến khích trong hai thập kỷ qua. “Chứng chỉ rừng đảm bảo rằng tắt cả các hoạt động lâm nghiệp cần thực hiện với sự đồng thuận của các nhóm dân tộc hoặc cộng đồng địa phương. Về kinh tế chủ rừng phải cố gắng đạt được việc sử dụng tối ưu và chế biến tại chỗ.
xản phẩm đa dạng của rừng, nhưng chủ rừng cũng phải đảm bảo giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường nơi khai thác và chế biến. Sản phẩm khi có dấu chứng nhận hợp chuẩn của chứng chỉ rừng thì sẽ được cộng. đồng tiêu thụ đánh giá tốt hơn, chấp nhận mua v‹ giá cao hơn. Chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đôi giá trị của hàng hoá mà trong nhiều trường hợp.
nó còn làm thay đổi thái độ của doanh nghiệp với rừng nói riêng và môi trường nói chung. Chứng chỉ rừng hỗ trợ rất nhiều cho vấn dé quản lý rừng. bền vững không những nó đem lại lợi ích cho doanh nghiệp chế biển lâm sản mà cả những đơn vị trồng rừng cũng được hướng lợi khi có chứng nhận này[1] ‘Tinh đến thời điểm tháng 3 năm 2012 đã có trên 80 quốc gia với diện tích 166 triệu ha được cắp chứng chỉ rừng (WWF, 2012). Tuy nhiên diện tích đạt được chứng chỉ FSC chủ yếu ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ, và đang có xu thé mở rộng sang Châu A, Châu Phi và Châu Úc Hội đồng chứng nhận gỗ Malaysia (MTCS) sử dụng phương pháp theo từng giai đoạn khi ngày càng nhiều thách thức lớn trong quản lý các khu rừng.
Ban đầu tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá các đơn vị quản lý rừng. cho mục tiêu chứng chỉ, các tiêu chí, các hoạt động và phục vụ cho chứng chỉ quản lý rừng dựa theo tiêu chuẩn của ITTO năm 1998 và những tiêu chuẩn phục vụ quản lý rừng bền vững. Cuối năm 2005 MTCS sử dụng, của Malaysia và các tiêu trí cho chứng chỉ rừng bao gồm 9 nguyên tắc, 47 tiêu chuẩn và 6 tiêu trí. MTCS có 10 thành viên chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ Malays ia với diện tích được cap chứng nhận 4,8 triệu ha6].
Tổ chức Lembaga Ekolanbel Indoneisia (LED được thành lập năm. 1994 là một tổ chức không được chính thức công nhận bởi FSC vì LEI không, phải là cơ quan cấp chứng chỉ, song LEI là một cơ quan được thừa nhận một cách chính thức của các cơ quan cấp chứng chỉ của Malaysia. Hiện nay đơn vị này đã cấp được 5 chứng chỉ với di tích 885.000ha rừng tự nhiên và một chứng chỉ rừng trồng với điện tích 1 59.