Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các nghiên cứu trước đây về đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng phòng hộ ven biển, trong và ngoài nước 1. Những nghiên cứu về đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng ven biển trong nước - Hoàng Quốc Trương :Bước đầu nghiên cứu phiêu sinh Vịnh Nha Trang. (1961) - Lê Công Kiệt:Những quần xã thực vật ở ven đảo Cam Ranh.
(1962) - Barry : Bản đồ thực bì ven đảo Cam Ranh (1/50. (1966) - Nguyễn Hải :Những thay đổi mới về khí hậu và độ mặn ở Nha Trang. (1966) - Phạm Hoàng Hộ :Bước đầu nghiên cứu về thực bì vùng núi ven biển của Việt Nam. Những nghiên cứu về đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng ven biển ngoài nước - Wikison và Baker (1994), đã nghiên cứu và đưa ra phương pháp điều tra, đánh giá đa dạng sinh học biển.
- Robert và Jonathan (1994), đã nghiên cứu và hướng dẫn tính toán số lượng ô đo đếm đa dạng sinh học bằng phương pháp ngoại suy. - Primack (1995), đã nghiên cứu và đề xuất các phương pháp bảo tồn đa ngành, nghiên cứu những mối đe dọa với đa dạng sinh học, bảo tồn cấp quần thể và loài, bảo tồn ở cấp quần xã. - Macintosh và ctv (2001), nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn và đa dạng sinh học vùng ven biển ở Ranong – Thái Lan. - Dieter Mueller – Dombois, Kent W.
Bridge và Curtis Daehler (2005) đã viết sách “Đánh giá đa dạng sinh học của hệ sinh thái đảo ở vùng nhiệt đới”. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào thống kê về đa dạng thực vật ở Nha Trang, đặc biệt nghiên cứu các quần xã thực vật của Nam Hòn Khô. Đề tài sẽ giải quyết vấn đề này. Khái quát các nhóm nhân tố sinh thái phát sinh quần thể thực vật của rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô 1.
Nhóm nhân tố tự nhiên * Vị trí địa lý Khánh Hòa là tỉnh ven biển thuộc Nam Trung Bộ: phía Bắc giáp với Tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp Ninh Thuận, phía Tây, Tây Nam giáp Tỉnh Đắc Lắk, Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông. Tổng diện tích đất tự nhiên 511.725 ha (trong đó huyện Trường Sa chiếm 49.000 ha), gồm 1 thành phố (Nha Trang), 1 thị xã (Cam Ranh), 7 huyện (Vạn Ninh, Ninh Hòa, Diên Khánh, Cam Lâm, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và huyện đảo Trường Sa) [17, tr.6], được giới hạn trong tọa độ - Vĩ độ: từ điểm cực Nam 11o41’53” đến điểm cực Bắc 12o50’28”. - Kinh độ: từ điểm cực Tây 108o40’26” đến giáp biển Đông Thành phố Nha Trang là trung tâm hành chính – kinh tế - văn hóa – du lịch – dịch vụ của Tỉnh Khánh Hòa. Ranh giới thành phố được xác định như sau: - Phía Bắc giáp huyện Ninh Hòa - Phía Nam giáp huyện Cam Lâm và Diên Khánh - Phía Đông giáp biển Đông - Phía Tây giáp huyện Diên Khánh Nha Trang có một vị trí địa lí đặc biệt quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng; có bờ biển dài là trung tâm du lịch của tỉnh cả nước [17, tr.6] Rừng phòng hộ Nam Hòn Khô có một vị trí rất quan trọng, góp phần tạo cảnh quan và điều hòa khí hậu cho Thành phố Nha Trang Tọa độ địa lí của rừng phòng hộ Nam Hòn Khô được khảo sát - Vĩ độ: từ điểm cực Nam 12o29’08” đến điểm cực Bắc12o33’28”.
- Kinh độ: từ điểm cực Tây 109o18’73” đến giáp biển Đông 109o24’32. 7 Nha Trang N:12o33’28” W:109o18’73” OTC5 OTC4 E:109o24’32” OTC3 Rừng Nam Hòn Khô OTC2 OTC10 OTC1 S:12o29’08” OTC5 OTC4 OTC3 OTC2 OTC10 OTC1 8 ccccc Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hoà, thành phố Nha Trang và bản đồ khoanh vùng nghiên cứu đa dạng loài và quần xã thực vật rừng phòng hộ Nam Hòn Khô – Thành phố Nha Trang Vị trí và ranh giới: - Nằm trong Phường Vĩnh Hòa - Phía Bắc là Xã Vĩnh Lương - Phía Nam và Tây Nam là Phường Vĩnh Hải - Phía Tây Phường Vĩnh Phương - Phía Đông là khu du lịch Bãi Tiên (giáp biển Đông) Như vậy, thực vật ở Rừng phòng hộ Nam Hòn Khô được khảo sát thuộc địa giới hành chính Phường Vĩnh Hòa Thành phố Nha Trang. * Địa hình 9 Khánh Hòa là Tỉnh có địa hình khá phức tạp do nằm ở rìa phía Đông của dãy Trường Sơn kéo dài ra sát biển Đông.
Địa hình Khánh Hòa nhìn chung có độ dốc lớn, thấp dần từ Tây sang Đông và có thể chia thành hai vùng: - Vùng đồi núi Vùng đồi núi chiếm gần 90% diện tích của Tỉnh, thuộc sườn đông của dãy Trường Sơn Nam. Địa hình khá phức tạp, nhiều chỗ bị đứt đoạn, xói mòn tạo nên bề mặt địa hình lởm chởm. Sự phân dị lớn về độ cao địa hình từ 50m đến 2000m và hình thành vòng cung chắn gió cả ba phía Bắc, Tây và Tây Nam bao quanh các đồng bằng nhỏ hẹp, tạo điều kiện gây mưa cực bộ dễ dẫn đến lũ lụt ở vùng đồng bằng. - Vùng đồng bằng ven biển Đồng bằng Khánh Hòa thường có dạng lòng chảo mở về phía đông, kéo dài theo đường bờ biển, bị ba dãy núi nhô ra biển (Núi Đạn, Hòn Khô và núi Cầu Hin) chia cắt thành 4 đồng bằng nhỏ: đồng bằng Vạn Ninh, đồng bằng Ninh Hòa, đồng bằng Nha Trang, đồng bằng Cam Ranh [17, tr.
Địa hình Nha Trang khá phức tạp, có vùng đồng bằng trũng là khu vực nội thành; vùng đồi núi chủ yếu nằm ở hai đầu Bắc – Nam và phía Tây thành phố, vùng ngoài biển Đông thành phố có nhiều đảo lớn nhỏ. Nha Trang có độ cao từ 0 m đến 900 m so với mặt nước biển, trong đó có những đỉnh núi cao như núi Hòn Thơm (xã Vĩnh Ngọc) có độ cao 224 m, núi Hòn Mặt (xã Phước Đồng) có độ cao 566 m, Hòn Rớ (xã Phước Đồng) có độ cao 338 m, Hòn Xanh (xã Phước Đồng) có độ cao 900 m, Hòn Ngang (Phường Vĩnh Hòa) có độ cao 320 m, Hòn Khô (Phường Vĩnh Hòa) có độ cao 374,1m, Hòn Chùa (Vĩnh Phương) có độ cao 663 m và Hòn Chọng Gọng (Vĩnh Lương) có độ cao 637 m. - Vùng địa hình bằng thấp, có độ dốc dưới 30: đây là vùng tập trung đông dân cư, cơ sở hạ tầng xã hội và đất đai sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản,…. Vùng địa hình này phân bố ở trung tâm Thành phố có diện tích 8.130,37 ha chiếm 32,33% tổng diện tích tự nhiên 10 - Vùng địa hình có độ dốc 30- 80: Đây là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và đồi núi, có diện tích 2.322 ha, chiếm 9,23% tổng diện tích tự nhiên toàn Thành phố.
Vùng địa hình này tập trung chủ yếu ở phía Tây và Đông Nam Thành phố, nơi sản xuất cây lâu năm, cây lâm nghiệp và khai thác đất, đá xây dựng. - Vùng địa hình có độ dốc 80- 150: loại địa hình này chủ yếu là đồi thấp, có diện tích 6.791,43 ha, chiếm 27,01% tổng diện tích tự nhiên toàn Thành phố. Hiện nay, trên địa hình này người dân đã trồng cây nông nghiệp lâu năm và trồng rừng. - Vùng địa hình có độ dốc 150- 200: Loại địa hình này chủ yếu là núi thấp , có diện tích 4.622 ha, chiếm 18,38% tổng diện tích tự nhiên toàn Thành phố và phân bố chủ yếu ở phía Tây và Đông Nam Thành phố.
- Vùng địa hình có độ dốc trên 200: loại địa hình này chủ yếu là núi cao, có diện tích 3.282 ha, chiếm 13,05% tổng diện tích tự nhiên toàn Thành phố và phân bố chủ yếu ở phía Tây và Đông Nam thành phố [18, tr. * Khí hậu Khánh Hòa có chế độ khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa có ảnh hưởng khí hậu đại dương. So với các tỉnh phía Bắc thì mùa đông ở Khánh Hòa ít lạnh hơn, còn mùa nóng kéo dài hơn. So với các tỉnh phía Nam thì Khánh Hòa có mùa mưa lệch về mùa đông và xuất hiện những đợt mưa ngắn trong mùa này: - Mùa mưa: từ tháng 8 đến tháng 12, lượng mưa chiếm tới 70 – 80% lượng mưa cả năm.
- Mùa khô: từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chỉ chiếm 20 – 30% lượng mưa cả năm. Do ảnh hưởng của vị trí địa lí, địa hình, địa mạo nên khí hậu của Khánh Hòa có nhiều nét đặc trưng như sau: - Chế độ gió: + Hướng gió: Mùa Đông ở Khánh Hòa chịu ảnh hưởng của tin phong Đông Bắc với không khí thịnh hành là nhiệt đới Thái Bình Dương (trong khi đó ở miền Bắc nước ta thịnh hành không khí cực đới biến tính). Vào thời kỳ này, mỗi khi áp cao lục địa Châu Á 11 hoạt động mạnh, không khí cực đới mới có điều kiện xâm nhập sau xuống vùng vĩ độ thấp. Luồng không khí lạnh từ lục địa phủ đầy băng tuyết tràn xuống phía Nam qua lục địa Trung Quốc hoặc qua biển Nhật Bản, Hoàng Hải và biển đông Trung Quốc hình thành từng đợt song gây ra gió mùa đông bắc tràn về nước ta.
Gió mùa Đông Bắc mạnh có thể đến Khánh Hòa theo hai hướng: hướng Bắc dọc theo sườn phía Đông địa phận Tỉnh Khánh Hòa, không khí cực đới đã bị biến tính rất mạnh mẽ, nên hầu như không thể hiện rõ các thuộc tính ban đầu lạnh và khô. Tại các trạm đo trong Tỉnh cho thấy trong các tháng mùa đông, gió thịnh hành nhất thường có hướng lệch Bắc, tại Nha Trang từ tháng XI đến tháng II năm sau, gió hướng Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc chiếm từ 15 – 37%. Mùa Hạ, không khí xích đạo bắt nguồn từ vùng biển Bắc Ấn Độ Dương kết hợp với một phần tín phong Nam bán cầu vận chuyển lên phía Bắc được gió mùa mùa Hạ đem đến Khánh Hòa theo hai luồng: Một luồng từ phía Tây, Tây Nam thổi tới qua các dãy núi Cam-pu-chia và hạ Lào, sau khi để lại mưa ở sường Tây Trường Sơn, sang đến vùng Duyên Hải miền Trung trong đó có Khánh Hòa đã đem lại thời tiết khô nóng trong các tháng mùa hạ; luồng thứ hai cũng là không khí xích đạo nhưng bắt nguồn từ Nam Thái Bình Dương và một phần của tín phong Nam bán cầu thổi đến theo hướng Nam hoặc Đông Nam, sau khi trải qua quãng đường dài trên biển đã đem lại thời tiết mát mẽ hơn vào các tháng cuối mùa hạ. Như vậy có thể nói chế độ gió ở Khánh Hòa thể hiện trong hai mùa rõ rệt: mùa Đông thịnh hành một trong ba hướng gió chính là Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc; mùa hạ là thời kỳ thịnh hành một trong ba hướng gió Đông Nam, Tây Nam và Tây.