Luận án nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao có mạch và đề xuất các giải pháp bảo tồn ở khu bảo tồn thiên nhiên pù hoạt tỉnh nghệ an

Chuyên khảo phân tích Luận án nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao có mạch và đề xuất các giải pháp bảo tồn ở khu bảo tồn, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

154
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đa dạng sinh học

1.2. Nghiên cứu về thực vật trên thế giới

1.2.1. Nghiên cứu về hệ thực vật

1.2.2. Nghiên cứu thảm thực vật

1.3. Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam

1.3.1. Nghiên cứu hệ thực vật

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, nằm ở tỉnh Nghệ An, là một trong những khu vực có đa dạng sinh học phong phú nhất tại Việt Nam. Với tổng diện tích lên đến 90.741 ha, khu vực này không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật mà còn là một phần quan trọng trong hệ sinh thái của miền Tây Nghệ An. Khu bảo tồn này được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển vào năm 2007, nhấn mạnh tầm quan trọng của nó trong việc bảo tồn đa dạng sinh họcbảo tồn thiên nhiên. Nghiên cứu về thực vật bậc cao tại đây là cần thiết để hiểu rõ hơn về cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả.

1.1. Đặc điểm địa lý và sinh thái

Khu bảo tồn Pù Hoạt có địa hình đa dạng với các khối núi cao, rừng nguyên sinh và hệ thống sông suối phong phú. Đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại thực vật bậc cao. Hệ sinh thái tại đây bao gồm nhiều loại rừng như rừng mưa nhiệt đới, rừng lá rộng và rừng lá kim, tạo nên một môi trường sống đa dạng cho các loài thực vật và động vật. Việc nghiên cứu hệ sinh thái tại Pù Hoạt không chỉ giúp bảo tồn đa dạng thực vật mà còn góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống cho các loài động vật hoang dã.

II. Đánh giá đa dạng thực vật bậc cao

Nghiên cứu về đa dạng thực vật bậc cao tại khu bảo tồn Pù Hoạt đã chỉ ra rằng khu vực này có sự phong phú về thành phần loài. Theo thống kê, có khoảng 13.000 loài thực vật bậc cao có mạch được ghi nhận tại Việt Nam, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế và khoa học cao. Việc phân tích các loại thực vậtdạng sống giúp xác định được các loài đặc hữu và các loài có nguy cơ tuyệt chủng. Đặc biệt, nghiên cứu đã phát hiện ra 3 loài mới cho khoa học, điều này không chỉ làm phong phú thêm cho hệ thực vật Việt Nam mà còn khẳng định giá trị của khu bảo tồn trong việc bảo tồn đa dạng sinh học.

2.1. Phân loại và cấu trúc thảm thực vật

Phân loại thảm thực vật tại Pù Hoạt cho thấy sự đa dạng về cấu trúc và thành phần loài. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thảm thực vật ở đây chủ yếu được hình thành từ các loài cây gỗ lớn, cây bụi và thảm cỏ. Sự phân bố của các loài thực vật cũng phản ánh rõ rệt các yếu tố địa lý và khí hậu của khu vực. Việc phân tích cấu trúc thảm thực vật không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hệ sinh thái mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho công tác bảo tồn đa dạng thực vật.

III. Các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật

Để bảo tồn đa dạng thực vật tại khu bảo tồn Pù Hoạt, cần thiết phải triển khai các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng là xây dựng các chương trình giáo dục cộng đồng về bảo tồn thiên nhiênquản lý tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, việc thiết lập các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt cho các loài thực vật quý hiếm cũng là một biện pháp cần thiết. Các nghiên cứu về nghiên cứu sinh họcnghiên cứu môi trường sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho các quyết định quản lý và bảo tồn. Việc hợp tác với các tổ chức quốc tế cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các chương trình bảo tồn.

3.1. Tăng cường quản lý và giám sát

Quản lý và giám sát chặt chẽ các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên là rất cần thiết để bảo vệ đa dạng sinh học tại Pù Hoạt. Cần thiết lập các quy định rõ ràng về khai thác lâm sản và các hoạt động khác có thể ảnh hưởng đến môi trường. Việc sử dụng công nghệ hiện đại trong giám sát và quản lý sẽ giúp phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm, từ đó bảo vệ hiệu quả hơn cho hệ sinh tháibảo tồn thiên nhiên.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đa dạng sinh học Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trên toàn cầu. Đó là Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN) [5], Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) [6], Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) [7], Viện Tài nguyên di truyền thực vật Quốc tế (IPGRI) [8].

Loài người muốn tồn tại lâu dài trên trái đất thì phải có một dạng phát triển mới và phải có cách sống mới. Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của con người phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, nếu những tài nguyên đó bị giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và con cháu của chúng ta sẽ bị đe doạ [9]. Chúng ta đã quá lạm dụng những nguồn tài nguyên đó, nên ngày nay loài người đang đứng trước hiểm hoạ. Hội nghị thượng đỉnh về vấn đề môi trường và đa dạng sinh học đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992, 150 nước đã ký vào Công ước về Đa dạng sinh vật và các biện pháp bảo vệ chúng.

Công ước Quốc tế tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992 đã xác định: sự đa dạng trong một loài, sự tác động gữa các loài và đa dạng hệ sinh thái [10]. Nghiên cứu về thực vật trên thế giới 1. Nghiên cứu về hệ thực vật Nghiên cứu về hệ thực vật được thực hiện từ thời Ai Cập Cổ đại cách đây hơn 3.000 năm TCN và Trung Quốc cổ đại cách đây 2.200 năm TCN, sau đó là ở Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng xuất hiện hàng loạt các tác phẩm về thực vật [11]. Théophraste (371-286 TCN) là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp phân loại thực vật và phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo cơ thể thực vật.

Trong hai tác phẩm "Lịch sử thực vật" (Historia Plantarum) và "Cơ sở thực vật" đã mô tả được khoảng 500 loài cây cỏ. Sau đó nhà bác học 3 La Mã Plinus (79-24 TCN) viết bộ "Lịch sử tự nhiên" (Historia Naturalis), đã mô tả gần 1. Cùng thời này có Dioseoride (20-60) một thầy thuốc của vùng Tiểu Á đã viết cuốn sách "Dược liệu học" chủ yếu nói về cây thuốc với hơn 500 loài cây và xếp chúng vào các họ khác nhau [11]. Thời kỳ Phục Hưng thế kỷ (XV - XVI) có các công trình của Andrea Caesalpino (1519 - 1603) ông đưa ra bảng phân loại đầu tiên về thực vật [12]; John Ray (1628 -1705) mô tả được gần 18.000 loài thực vật trong cuốn "Lịch sử thực vật” [12].

Tiếp sau đó Linnée (1753) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật lúc bấy giờ. Ông đã đưa ra cách đặt tên bằng tiếng La tinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày nay chúng ta còn sử dụng và ông đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị phân loại: Giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài [13]. Từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay có các công trình nghiên cứu về phân loại thực vật của các tác giả như: Cronquits (1981) [14], Hutchinson (1975) đã đưa ra hệ thống phân loại của thực vật có hoa [15], Takhtajan (1987, 2009) [16], [17]. Brummitt (1992), chuyên gia của Bảo tàng Thực vật Hoàng Gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào 13.884 chi, 511 họ thuộc 6 ngành là: Psilotophyta, Lycopodiophyta, Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta.477 chi, 454 họ và được chia ra 2 lớp là Magnoliopsida bao gồm 10.715 chi, 357 họ và Liliopsida bao gồm 2.

Heywood (2007) đã ghi nhận thực vật có hoa trên thế giới với ước tính có khoảng 250. Gần đây, dựa trên sinh học phân tử các nhà nghiên cứu về thực vật phân loại dựa vào chủng loại phát sinh đã phân chia các lớp, phân lớp theo hệ thống APG IV [20]. Ở các nước châu Âu, châu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật trên toàn lãnh thổ đã được hoàn thành từ lâu. Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô (Herbarium) như: Kew (Anh), Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga).

Vì vậy, khi xây 4 dựng các Khu BTTN và VQG hết sức thuận lợi, đơn giản đối với họ. Một số công trình tiêu biểu của một số nước châu Á như: Thực vật chí Ấn Độ [21], Thực vật chí Malaixia (1948-1972) [22], Thực vật chí Thái Lan (1970-2012) [23], Thực vật chí Hải Nam (1971-1980) [24], Thực vật chí Vân Nam (1977- 1997) [25], Thực vật chí Trung Quốc (1994-2013), (1968-2000) [26], [27], Thực vật chí Hồng Kông (2007-2009) [28], Thực vật chí Đài Loan (1993- 2000) [29],… Như vậy, nghiên cứu về đa dạng thực vật nói chung trên thế giới ở các nước tiên tiến đã có các công trình khá đầy đủ về thực vật chí, phòng tiêu bản thực vật để giúp cho quá trình tra cứu và nghiên cứu tiếp theo được thuận lợi và dễ dàng. Nghiên cứu thảm thực vật Nghiên cứu về thảm thực vật, có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm đều đưa ra những cách thức phân loại riêng theo từng mục đích như phân loại rừng dựa theo cấu trúc và ngoại mạo. Đây là hướng cổ điển được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng như A.

Aubréville (1949) [32], Schimithusen (1959) [33], UNESCO (1973) [34],… Cơ sở phân loại của xu hướng này thường là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật. Theo Schimitthusen (1959), ở châu Âu hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu phân loại theo quần xã thực vật. Caiande lại dựa vào thực vật thảm tươi để phân loại rừng. Ông cho rằng trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây gỗ của lâm phần.

Theo 5 đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất sinh học của môi trường, kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật rừng. Tuy thế, điều này không hoàn toàn đúng vì thực tế thảm tươi có khả năng chỉ thị nhưng không có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa. Ngoài ra các yếu tố bên ngoài như lửa rừng, khai thác,… cũng ảnh hưởng lên thảm tươi [33]. Ở Mỹ, phân loại rừng chủ yếu dựa vào học thuyết cực đỉnh (climax) của Clement.

Theo học tuyết này, climax tạo cho quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu. Khí hậu là nhân tố để xác định Climax [33]. Cũng theo Schmitthusen (1959), thảm tươi trên trái đất được chia thành 9 lớp quần hệ là: lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ Sa-van, lớp quần hệ đồng cỏ và nửa cây bụi, lớp quần hệ thực vật sống 1 năm, lớp quần hệ hoang mạc, lớp quần hệ đồng rêu, lớp quần hệ thực vật hồ nước nội địa và lớp quần hệ thực vật biển [33]. Năm 1973, UNESCO đã công bố khung phân loại thảm thực vật trên thế giới dựa theo nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, được thể hiện trên bản đồ 1:2.000 000; chia có 5 lớp quần hệ trên thế giới làm 5 lớp quần hệ là lớp quần hệ rừng rậm, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần xã gần gũi và lớp quần hệ cây thảo.

Mỗi lớp quần hệ lại chia ra thành các phân lớp, mỗi phân lớp lại chia ra thành các nhóm quần hệ và sau đó mới đến các quần hệ. Mỗi quần hệ được phân nhỏ thành các phân quần hệ và dưới đó là quần hợp [34]. Hệ thống đó được sắp xếp như sau: 1. Lớp quần hệ 1.

Phân lớp quần hệ 1. Nhóm quần hệ 1. Phân quần hệ Đến nay, dù dưới các hình thức phân loại khác nhau, dựa trên những nhân tố khác nhau, nhưng 14 nhóm thảm thực vật chính trên trái đất được nhiều tác giả công nhận. Các nhóm đó đan xen vào nhau và xuất hiện trong 6 các đai khí hậu khác nhau.

Điều đó được thể hiện khá rõ nét trên cơ sở bản đồ của Udvardy (1975) và sơ đồ phân loại của Holdridge (1867). Chi tiết các nhóm như sau: 1. Rừng mưa nhiệt đới 8. Sa mạc, bán sa mạc lạnh 2.

Rừng mưa á nhiệt đới-ôn đới 9. Đầm rêu (Tundra) và sa mạc cực 3. Rừng lá kim ôn đới 10. Trảng và đồng cỏ nhiệt đới 4.

Rừng khô nhiệt đới 11. Đồng cỏ ôn đới 5. Rừng lá rộng ôn đới 12. Thảm thực vật vùng núi 6.

Rừng lá cứng thường xanh 13. Thảm thực vật vùng đảo 7. Sa mạc và bán sa mạc 14. Thảm thực vật ao hồ Ở châu Âu, theo Schitmithusen (1959) có hai hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu, đó là hệ thống phân loại quần xã thực vật của Braun- Blanquet 1928 phần lớn được thực hiện bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần thể thực vật chủ yếu được thực hiện bởi các nhà địa thực vật học của Đức.

Việc phân loại rừng nhằm các mục đích kinh doanh đều rất đa dạng với nhiều trường phái và phương pháp phân loại khác nhau như: trường phái Liên Xô cũ, trường phái Pháp, trường phái Hà Lan, trường phái Mỹ, trường phái Canada,… Nói chung tùy mục đích nghiên cứu, mỗi trường phái lựa chọn yếu tố chủ đạo và đưa ra nguyên tắc phân loại khác nhau. Nga là một nước có lịch sử lâu dài về vấn đề phân loại rừng theo điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên phải đến đầu thế kỷ 20, Môrôđốp mới là người đầu tiên đặt nền móng chắc chắn cho vấn đề phân loại rừng phục vụ kinh doanh. Theo ông, kiểu rừng là tập hợp các lâm phần có thể khác nhau về những đặc trưng thứ yếu nhưng lại tương tự nhau về lập địa, đặc biệt là nhân tố thổ nhưỡng.

Ông đã tiến hành phân loại rừng theo 5 yếu tố hình thành rừng: + Đặc tính sinh thái học của cây cao. + Hoàn cảnh địa lý (khí hậu, thổ nhưỡng, địa chất,…). + Quan hệ giữa các thực vật tạo nên quần lạc và quan hệ giữa chúng với động vật. 7 + Nhân tố lịch sử địa chất.

+ Tác động của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao và giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Nghệ An" tập trung vào việc khảo sát và bảo tồn các loài thực vật bậc cao trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng sinh học của khu vực mà còn đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả nhằm bảo vệ các loài thực vật quý hiếm. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng thực vật, cũng như các phương pháp có thể áp dụng để duy trì và phát triển hệ sinh thái tự nhiên.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Nghiên cứu quy trình nhân nhanh in vitro cây ráy mũi tên lá dài Alocasia longiloba, nơi trình bày quy trình nhân giống thực vật, hay Nghiên cứu khả năng kháng nấm gây bệnh trên thực vật của tinh dầu tràm Melaleuca alternifolia, bài viết này khám phá khả năng bảo vệ thực vật từ các nguồn tự nhiên. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu sinh học và nhân giống thạch tùng răng cưa Huperzia serrata tại Lào Cai và Lâm Đồng, một nghiên cứu liên quan đến bảo tồn và phát triển các loài thực vật đặc hữu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến đa dạng sinh học và bảo tồn thực vật.