Đặt vấn đề Rừng lànơi chứa đựng nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng vàphong phú nhưng do tác động của biến đổi khíhậu, chiến tranh kéo dài vàkhai khác quá mức nên trong những năm gần đây chúng đang bị phân cắt vàsuy giảm nhanh chóng cả về kích thước vàchất lượng. Khi môi trường sống bị thay đổi, mọi loại thực vật rừng đều bị tổn thương và có khả năng thích nghi được với môi trường sống hay không phần lớn phụ thuộc vào mức độ đa dạng di truyền của quần thể/loài tại khu vực đó. Thực tế hiện nay cho thấy đang có nhiều loài thực vật rừng quýhiếm dần bị suy giảm và có nguy cơ biến mất. Rừng ở Đông Nam Bộ bao gồm kiểu rừng lárộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, với những loài động thực vật đặc trưng có tính đa dạng sinh học cao.
Trong rừng, cây họ Dầu làloài chiếm ưu thế, như Dầu Song nàng (D. dyeri Pierre), Dầu mít (D. costatus Gaertn), Vên vên (A. costata), Dầu lông (D.
intricatus Dyer), Dầu tràbeng (D. obtusifolius) và đóng một vai tròquan trọng trong sinh thái vàkinh tế. Hiện nay, đã có hơn 45 loài với 6 chi được tìm thấy ở Việt Nam, chủ yếu lànhững loài đặc hữu vàbản địa. Do giátrị thương mại vànhu cầu gỗ địa phương tăng lên đáng kể đã làm cho các cáthể loài cây Dầu bị khai thác quámức cộng với việc số lượng cây họ Dầu tái sinh được trồng chưa đa dạng về chủng loại, công tác chọn giống cây chưa được đầu tư đúng mức, việc sử dụng các giống cây tại các Vườn quốc gia (VQG), khu bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) để gieo trồng còn hạn chế khiến cho các quần thể cây họ Dầu ở đây ngày càng bị thu hẹp vàsuy giảm nghiêm trọng.
Do đó, đòi hỏi cần cónghiên cứu kĩ lưỡng về điều kiện, đặc điểm sống của một số loài cây họ Dầu để sử dụng cho việc trồng cây tại các khu đất ở VQG, KBTTN đạt hiệu quả cao. Việc đánh giá đa dạng di truyền cho các quần thể hiện còn sót lại là rất cần thiết để từ đó có thể sinh học, đưa ra các biện pháp bảo vệ, chiến lược bảo tồn vàphát triển hiệu quả nguồn gen quýhiếm này. Trong các loài cây họ Dầu thìVên vên (A. costata) làloài ít được nghiên cứu hơn.
Gỗ cây Vên vên được xếp vào cấp IV cómàu tự nhiên, thớ mịn, tương 2 đối bền, dễ gia công cónhiều đặc tính cơ lí tốt, lõi cứng vànặng cógiátrị cao trong xây dựng, không cần sử dụng thuốc chống mối trong quátrình bảo quản. Gỗ Vên vên cómặt phổ biến trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, nhựa của chúng còn được sử dụng để làm sơn vecni hoặc sơn mài,…Vên vên làloài được xếp vào bậc EN A1c,d,B1 + 2a. Loài cây này hiện nay chỉ còn số lượng nhỏ vàbị côlập trong các mảnh rừng tự nhiên ở một số tỉnh Đông Nam Bộ.
Để công tác bảo tồn vàquản lýloài cóhiệu quả thìngoài các thông tin về điều kiện sinh thái/sinh sản còn cần thêm các thông tin về tính đa hình di truyền của quần thể. Kỹ thuật Microsatellite (SSR) làmột trong những công cụ được sử dụng phổ biến cho việc đánh giá đa dạng di truyền ở thực vật. Hiện nay, do cótí nh đa hình cao và tính kế thừa đồng trội trong genome. Hiện chưa cóbất kỳ nghiên cứu nào liên quan đến xác định độ đa dạng di truyền của loài Vên vên ở khu vực rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ Luận văn nghiên cứu của tôi tập trung điều tra tính đa dạng di truyền trong vàgiữa các quần thể loài Vên vên ở rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ để hiểu rõ hơn về bản chất di truyền quần thể vàloài, vàgóp phần giúp các nhàquản lý đưa ra giải pháp tối ưu cho công tác bảo tồn, quản lý, phục hồi vàphát triển bền vững loài này.
Mục tiêu vànội dung nghiên cứu 2. Mục tiêu Xác định được mức độ đa dạng di truyền quần thể vàloài của loài Vên vên (A. costata) ở rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ. Xác định được các nguyên nhân làm mất tính đa dạng di truyền quần thể và loài, đưa ra các giải pháp phục hồi vàsử dụng bền vững loài Vên vên.
Nội dung nghiên cứu Đánh giá tần số allele vàmức độ đa dạng di truyền ở mức độ quần thể vàloài Vên vên dựa trên chỉ thị SSR. Xác định mối quan hệ di truyền giữa các quần thể loài Vên vên trên cơ sở khoảng cách di truyền vàmức độ khác nhau giữa các quần thể. 3 Một số nguyên nhân làm suy giảm tính đa dạng di truyền và đề xuất một số giải pháp bảo tồn, quản lývàphục hồi quần thể vàloài Vên vên. Cở sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn: 3.
Cơ sở khoa học: Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cung cấp dẫn liệu đa dạng di truyền cho loài Vên vên ở rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ. Dẫn liệu thu được là cơ sở khoa học quan trọng để hiểu rõ hơn về bản chất di truyền quần thể dưới tác động của môi trường sống, đặc biệt liên quan đến các hoạt động của con người. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu cũng góp phần cho công tác bảo tồn ở cả 2 mức độ quần thể và loài Vên vên ở rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ. Nâng cao nhận thức của người dân địa phương và những người quản lý về công tác bảo tồn loài Vên vên đang bị đe dọa.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây họ Dầu Họ Dầu còn được gọi làhọ hai cánh (Dipterocarpaceae), bao gồm 17 chi vàkhoảng 580 – 680 loài cây thân gỗ, phân bố chủ yếu ở các rừng mưa nhiệt đới vùng núi thấp. Tên gọi khoa học của họ xuất phát từ chi điển hì nh là Dipterocarpus, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (di làhai, pteron là cánh vàkarpos làquả, nghĩa là quả cóhai cánh). Các chi lớn nhất làShorea (196 – 360 loài), Hopea (105 loài), Dipterocarpus (70 loài) vàVatica (60 – 65 loài).
Nhiều loài chiếm ưu thế trong các hệ sinh thái rừng, cây cóthể cao tới 40 – 70 m, đôi khi trên 80 m (Dryobalanops, Hopea vàShorea). Theo tác giả Thái Văn Trừng (1978) chỉ ra rằng các loại cây họ Dầu phân bố chủ yếu ở Campuchia, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanma, Ấn Độ vàphía Nam Trung Quốc [1]. Họ Dầu (Dipterocarpaceae) gồm 3 phân họ. Monotoideae gồm có3 chi và30 loài, phân bố ở Châu Phi, đảo Madagascar và vùng Amazon thuộc Colombia.
Pakaraimoideae gồm có1 loài duy nhất làPakaraimaea roraimae, phân bố ở vùng cao nguyên Guiana (Nam Mỹ). Dipterocarpoideae làphân họ lớn nhất gồm có 13 chi và470 – 650 loài. Khu vực phân bố bao gồm Seychelles, Sri Lanka, Ấn Độ, Đông Nam Á, New Guinea, nhưng chủ yếu ở miền tây Malesia, tại đây chúng tạo thành quần thể thống lĩnh trong các cánh rừng vùng núi thấp. Theo danh lục các loài thực vật, họ Dầu gồm 6 chi, 42 loài và3 phân loài, trong đó chi Vên vên (Anisoptera) có2 loài; chi Dầu (Dipterocarpus) có11 loài và2 phân loài; Kiền kiền (Hopea) có11 loài; Chòchỉ (Parashorea) có2 loài; Sến mủ (Shorea) có8 loài; Táu (Vatica) có8 loài và1 phân loài.
Hai loài Vên vên trong danh lục thực vật Việt Nam gộp lại thành 1 loài làVên vên (A. costata); chi Dầu (Dipterocarpus) có12 loài, bổ sung loài Dầu Cát (D. condorensis) so với Danh lục thực vật Việt Nam; Kiền kiền (Hopea) có 11 loài trong đó không nhắc đến loài Sao xanh (Hopea helferi) như trong Danh lục thực vật Việt Nam vàbổ sung thêm một loài chưa định danh chính xác là Sao đá (Hopea sp.); Chò chỉ (Parashorea) có2 loài; Sến mủ (Shorea) có8 loài vàTáu (Vatica) có8 loài với 1 phân loài. Loài Sao đá (Hopea sp.
condorensis) đã được tác giả ghi nhận cósự tồn tại ở Việt Nam. Trong khi đó, các loài khác như Sao 5 xanh (Hopea helferi), Kiền kiền nhẵn (Anisoptera scaphula) không thực sự tồn tại ở Việt Nam. Về thực trạng của họ Dầu, có 23 loài được ghi nhận ở mức độ bị đe dọa, trong đó 2 loài rất nguy cấp (CR) có3 loài nguy cấp (EN) và18 loài đang bị đe dọa (VU), có 11 loài được xếp hạng đe dọa, trong đó có1 loài rất nguy cấp (CR), 5 loài nguy cấp (EN) và 5 loài đang bị đe dọa (VU). Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) các loài họ Dầu (Dipterocarpaceae) được phân bố trong các sinh cảnh rừng khôcây họ Dầu, rừng mưa thường xanh hoặc nửa rụng lá, rừng kín mưa mùa thường xanh ẩm [2].
Các loài họ Dầu (Diptercarpaceae) lànhững loài cây gỗ cógiátrị kinh tế cao bởi thân thẳng, gỗ tốt vàchiếm lĩnh các sinh cảnh tốt. Gỗ cây được sử dụng cho mục đích xây dựng hay làm vỏ tàu thuyền. Nhựa được sử dụng để làm sơn, vécni, sơn mài hay đồ mỹ nghệ. Khoảng giữa những năm 80 của thế kỷ trước, chúng chiếm đến 25% thị phần thương mại gỗ cứng của thế giới, trong đó hơn 80% là Shorea.
Bên cạnh đó, nhựa vàcác hợp chất của cây họ Dầu cũng có giá trị cao như resin, oleoresin. Ở thời điểm năm 1959, diện tí ch các loài rừng cócây họ Dầu ở Đông Nam Bộ là1.257 ha (chiếm 49% diện tích toàn vùng), đến năm 1968 đã giảm xuống còn 834.050 ha (chiếm 36% diện tích khu vực, năm 1982 giảm còn 416.900 ha (chiếm 18% diện tích) và năm 1992 chỉ còn lại 183. Rõràng công tác bảo tồn các loài cây họ Dầu ở nước ta đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, nóđóng góp to lớn vào việc quản lývàbảo tồn nguồn gen cây rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta. Họ Dầu ở Việt Nam cócác loài thân cây gỗ cao tới 30 – 40 m, với trên 40 loài của 6 chi đặc trưng là Dipterocarpus (Dầu), Anisoptera (Vên vên), Hopea (Sao), Vatica (Táu), Shorea (Sến mủ), Parashorea (Chòchỉ).
Do chiến tranh pháhoại vàdo khai thác không hợp lý màtài nguyên rừng cây họ Dầu giảm đi đáng kể cả về diện tích vàtrữ lượng rừng. Loài Vên vên Loài Vên vên, thuộc họ Dầu phân bố ở Việt Nam, Lào, Cam Pu Chia và Thái Lan. Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), loài này được tìm thấy ở Kon Tum, Gia Lai, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, BàRịa – Vũng 6 Tàu, Khánh Hòa vàKiên Giang [2]. Đây là loài sinh sản lưỡng tí nh vàthụ phấn nhờ côn trùng (Hình 1.
Cây vàquả Vên vên tại VQG BùGia Mập (năm 2019) Loài cây này cómùa ra hoa bắt đầu từ tháng 12 cho tới tháng 3 năm sau vàchín quả vào tháng 4 đến tháng 5. Hạt được phát tán nhờ gió. Vên vên thường mọc trong các kiểu rừng kí n, ẩm, thường xanh với Bằng lăng ưu thế, thường cùng mọc với một số loài khác như Sao đen, Dầu rái, Sến mủ, Gội nếp., hiếm khi trông thấy Vên vên mọc thành các khu rừng gần thuần loại.