CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niêm về cháy rừng Cháy rừng là một hiện tượng phổ biến, thường xuyên xảy ra ở nước ta và nhiều nước trên thế giới, nhiều khi nó là thảm họa khôn lường, gây thiệt hại to lớn về người và tài nguyên rừng cũng như tài sản của người dân sống gần rừng…Vì vậy, nghiên cứu phòng cháy chữa cháy rừng và giảm thiểu những thiệt hại do nó gây ra đã được đặt ra như một yêu cầu cấp bách của thực tiễn với hoạt động nghiên cứu khoa học. Những nghiên cứu về phòng cháy, chữa cháy rừng, đã được tiến hành từ nghiên cứu định tính đến những nghiên cứu định lượng, nhằm tìm hiểu bản chất của hiện tượng cháy rừng và mối quan hệ giữa các yếu tố gây ra cháy với nhau và với môi trường xung quanh.
Từ đó đề ra những giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng. + Sự cháy: Là một phản ứng hóa học, phân hủy những hợp chất hữu cơ phức tạp thành những chất vô cơ đơn giản hơn. Trong quá trình đó còn tỏa ra một lượng nhiệt lớn. + Cháy rừng: là những đám cháy xuất hiện và lan tràn ở trong rừng mà không có sự kiểm soát của con người, gây ra những thiệt hại nhiều mặt về tài nguyên của cải và môi trường sinh thái.
Theo FAO đưa ra khái niệm về cháy rừng và đến nay thường được sử dụng trong tài liệu về quản lý lửa rừng:“Cháy rừng là sự xuất hiện và lan truyền của những đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người; gây nên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường” (Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2004). + Thảm thực vật rừng dễ cháy: Trong công tác PCCCR ở Việt Nam đã xuất hiện khái niệm rừng dễ cháy. Theo đó, rừng dễ cháy là các loại rừng có khả năng tích lũy khối lượng vật liệu lớn, rất dễ xảy ra. Theo phân loại, thảm thực vật rừng dễ cháy ở Việt Nam gồm: rừng thông, rừng tràm, rừng tre nứa, rừng bạch đàn, rừng khộp, rừng keo các loại, rừng non khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, rừng đặc sản,.
+ Phòng cháy rừng: Phòng cháy rừng là việc thực hiện đầy đủ các biện pháp tổ chức, kinh tế, xã hội, pháp chế, khoa học- công nghệ để dự báo/cảnh báo, tuyên truyền giáo dục, điều tiết các hoạt động của con người trong và gần vùng rừng, làm giảm thiểu các nguy cơ cháy và xây dựng các công trình phòng lửa nhằm ngăn chặn không để xẩy ra cháy trong vùng rừng cần bảo vệ (Bế Minh Châu, 2001). Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 + Chữa cháy rừng: Chữa cháy rừng là việc tổ chức huy động lực lượng, phương tiện và thực hiện các hoạt động/biện pháp để dập tắt kịp thời đám cháy vừa được phát hiện; không để lửa lan tràn, hạn chế và chấm dứt thiệt hại do cháy rừng gây ra (Bế Minh Châu, 2001). Điều kiện và nguyên nhân cháy rừng + Điều kiện cháy rừng Cháy rừng chỉ có thể xảy ra khi có sự kết hợp đồng thời của 3 nhân tố cơ bản: Oxy, vật liệu cháy và nhiệt lượng. Nếu thiếu một trong 3 nhân tố đó, sự cháy sẽ không xảy ra.
Sự kết hợp của 3 nhân tố này tạo nên một tam giác lửa (Lê Quang Huỳnh, 1985). + Nguyên nhân gây cháy rừng Nguồn lửa là nguyên nhân cơ bản của cháy rừng. Phần lớn các vụ cháy rừng chủ yếu đều liên quan đến hoạt động của con người. - Đốt phá làm nương rẫy, xử lý thực bì bằng lửa khi canh tác trong rẫy, đốt ruộng và đồng cỏ.
- Sử dụng lửa rừng trong rừng và ven rừng thiếu cẩn thận. - Sử dụng lửa để phục vụ một số các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. - Đốt rừng để trả thù và đánh lạc hướng các cơn quan chức năng. Trong các nguyên nhân trên, cháy rừng do hoạt động canh tác nương rẫy chiếm tỉ lệ lớn nhất.
Ngoài ra nguồn lửa gây cháy rừng còn có thể do các quá trình tự nhiên như: Sấm sét, núi lửa, động đất, những nguyên nhân này rất khó khống chế. Tuy nhiên cháy rừng xảy ra với những nguồn lửa như vậy chỉ xuất hiện trong những điều kiện thời tiết hết sức thuận lợi cho quá trình cháy. Các nhân tố ảnh hưởng đến cháy rừng 1. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên a) Kiểu thảm thực vật rừng và loại hình thực bì: VLC gồm thảm khô (cành, nhánh, lá, vỏ, hoa, quả, trảng cỏ, cây bụi,.), cây khô, than bùn, thân cây và cành lá còn tươi có chứa tinh dầu,.
Nguy cơ cháy rừng tăng lên cùng với sự gia tăng VLC. Kiểu rừng và loại hình thực bì có liên quan trực tiếp tới nguồn VLC, tính chất và khối lượng VLC do đặc điểm của kiểu rừng và loại hình thực bì quyết định, từ đó dẫn đến tính bắt lửa và quy mô đám cháy. Ở các kiểu rừng thông, tràm, bạch đàn, rừng khộp sản phẩm rơi rụng là những cành, lá, hoa quả, vỏ cây và thân cây khô… thường có tinh dầu hoặc nhựa rất dễ bắt lửa và cháy rất đượm. Những khu rừng tre nứa thuần loài hoặc tre nứa chiếm ưu thế, ngoài những cành khô, lá rụng, cây chết, còn có trường hợp tre nứa bị hiện tượng “khuy” chết Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 hàng loạt, vì vậy nguồn VLC sẽ rất lớn.
Một số loại rừng rụng lá theo mùa (như rừng khộp) cũng là nguồn VLC tiềm tàng tại thời điểm rụng lá hoặc tích lũy hàng năm. b) Điều kiện thời tiết và các nhân tố khí tượng: Thời tiết và các nhân tố khí tượng là một tác nhân cho sự phát sinh, phát triển của một đám cháy rừng. - Nhiệt độ: Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình cháy rừng như làm khô, nỏ VLC; làm độ ẩm không khí giảm và bề mặt đất nóng lên,… Khi xem xét vai trò của nhiệt độ đối với cháy rừng thường đánh giá ảnh hưởng của nó tới các mặt: + Nhiệt độ làm rút ngắn quá trình khô của VLC. + Làm nóng và khô nhanh mặt đất dẫn đến lớp không khí sát mặt đất nóng lên.
Như vậy, nhiệt độ gồm hai thành phần là nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí. - Độ ẩm: Độ ẩm là nhân tố gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình phát sinh cháy rừng và quy mô đám cháy. Độ ẩm không khí càng cao thì VLC càng ẩm, khó xảy ra cháy. Ngược lại, độ ẩm thấp VLC khô dẫn tới dễ xảy ra cháy rừng và cháy lớn.
Để có biện pháp phòng ngừa và cảnh báo cháy rừng cụ thể, độ ẩm được chia làm 3 loại sau: + Độ ẩm không khí: Nhìn chung, độ ẩm không khí ở các vùng có rừng cao hơn nhiều so với các khu vực không có rừng. Nguyên nhân là do sự thoát hơi nước của thực vật. Mặt khác, do đất dưới tán rừng luôn ẩm ướt, quá trình bốc hơi vật lý thường xuyên xảy ra cung cấp độ ẩm cho lớp không khí. Ngoài ra, ở trong rừng tính từ giới hạn mặt đất tới tán cây, do mật độ cây dày, cành lá rậm rạp làm cho dòng bốc thoát hơi trong rừng diễn ra chậm, làm độ ẩm không khí trong rừng cao hơn bên ngoài rừng.
+ Độ ẩm VLC: Độ ẩm của VLC tỷ lệ thuận với độ ẩm của không khí và ảnh hưởng tới khả năng bén lửa. Độ ẩm càng thấp khả năng bén lửa càng cao và ngược lại. Mặt khác, độ ẩm VLC còn phụ thuộc vào lượng mưa. Mưa càng lâu, càng lớn thì độ ẩm VLC càng cao và thời gian ẩm ướt kéo dài.
+ Độ ẩm của đất: Lượng nước tạo thành độ ẩm của đất trong rừng gồm nước mưa đọng trên mặt đất; lượng nước thực tế trong tầng đất mặt và nước ngầm thường xuyên duy trì và làm ẩm mặt đất bằng hiện tượng mao dẫn (mực nước ngầm thường xuyên biến động theo mùa, về mùa khô thường nằm sâu hơn so với mùa mưa, còn ở địa hình đồi núi cao mực nước ngầm ít có ảnh hưởng tới độ ẩm của lớp bề mặt). Nhìn chung, độ ẩm tương đối của đất rừng cao hơn so với bên ngoài và phụ thuộc nhiều vào các đặc điểm của cấu trúc rừng gồm: mật độ cây rừng, loài cây, tính chất đất, dạng địa hình, hướng phơi,. Nước trong đất rừng thường xuyên bốc hơi làm tăng độ ẩm không khí trong rừng, thời gian ẩm kéo dài thì khả năng bắt lửa của VLC giảm đi. Nói chung, với độ ẩm của đất rừng thích hợp, dưới tác động của nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất, vi sinh vật hoạt động thuận lợi, đẩy nhanh quá trình phân Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 giải VLC trên mặt đất, kể cả quá trình khoáng hoá các chất hữu cơ nằm dưới mặt đất.
Trong những trường hợp như vậy, khả năng tích luỹ các chất hữu cơ dưới và trên mặt đất càng giảm nhanh. Điều này cũng giải thích vì sao ở trên những vùng rừng ở độ cao từ 800 - 1000 m trở lên, lớp cành khô lá rụng thường phủ dày vì tốc độ phân huỷ kém. Kết quả khảo sát của nhiều đoàn điều tra rừng thuộc khu vực núi Phan Xi Păng cho thấy, từ độ cao 1000 m trở lên, dưới mặt đất rừng thông, Pơ mu, Samu gần như thuần loại, tầng thảm mục có chỗ dày trên 1m nên ở đây rất dễ phát sinh cháy rừng bề mặt và cháy ngầm (Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2004). - Gió: Là nhân tố ảnh hưởng rất nhiều đến cháy rừng, gió thúc đẩy nhanh quá trình làm khô VLC; làm bùng phát ngọn lửa và đẩy nhanh tốc độ đám cháy; mang theo tàn lửa gây các đám cháy khác, làm đám cháy phát triển nhanh và lan rộng.
Phần lớn diện tích rừng của Việt Nam phân bố trên các dạng địa hình đồi núi và thung lũng. Mỗi dạng địa hình gây ra hoàn lưu gió cục bộ, địa phương khác nhau. Điển hình nhất là hệ thống gió núi và thung lũng, chúng hình thành theo từng khoảng thời gian trong ngày. Ở các thời điểm khác nhau trong ngày, hệ thống gió núi và thung lũng phụ thuộc rất chặt chẽ vào sự phân bố năng lượng nhiệt của mặt trời, từ đó chi phối hoàn lưu gió theo thời gian cũng khác nhau, làm cho quy mô và mức độ lan tràn của một đám cháy ở thung lũng cũng khác nhau.