Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc. Việt Nam cũng như các nước trên thế giới hiện nay, diện tích rừng và đất rừng ngày càng bị thu hẹp cả về chất lượng và số lượng mà nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động của con người gây ra. Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020: Mục tiêu đến năm 2020, thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp; nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42- 43% vào năm 2010 và 47% vào năm 2020; đảm bảo có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào phát triển lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ môi trường; góp phần xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn miền núi và giữ vững an ninh quốc phòng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp (bao gồm cả công nghiệp chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường) từ 3,5% đến 4%/năm, phấn đấu đến 2020 GDP lâm nghiệp đạt khoảng 2-3% GDP quốc gia.
Ở Việt Nam, trong 10 năm tới, nguồn cung cấp gỗ trong nước chủ yếu dựa vào khai thác rừng trồng và cây phân tán[2]. Cùng với những dự báo này, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp đến năm 2020: Thiết lập lâm phận quốc gia ổn định cho 3 loại rừng, lập bản đồ và cắm mốc trên thực địa, trong đó quản lý bền vững và hiệu quả toàn bộ diện tích rừng sản xuất ổn định 3,63 triệu ha rừng tự nhiên 4,15 triệu ha rừng trồng (bao gồm rừng trồng nguyên liệu công nghiệp, lâm sản ngoài gỗ và các loại c 2 rừng trồng khác). Sản xuất gỗ ổn định từ rừng tự nhiên, rừng trồng và cây trồng phân tán đến năm 2020 đạt 20 - 24 triệu m3/năm (trong đó có 10 triệu m3 gỗ lớn) và phát triển lâm sản ngoài gỗ nhằm đáp ứng phần lớn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; Cung cấp gỗ nhỏ cho chế biến bột giấy: đến năm 2020 là 8,3 triệu m3; Nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng trung bình đạt 15 m3 gỗ/ha/năm trên cơ sở thực hiện Chiến lược giống cây lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020. Làm giàu 0,5 triệu ha rừng nghèo kiệt góp phần nâng cao chất lượng rừng tự nhiên.
Trồng rừng mới đến năm 2020 đạt 1,5 triệu ha, trồng lại rừng sau khai thác từ 0,3 triệu ha/năm. Cây Sa Mộc Dầu là Cây gỗ to, thường xanh, có thể cao đến 35 - 40 m hay hơn nữa với đường kính thân đến hơn 1,5 m, tán lá hình tháp. Lá mọc xoắn ốc rất xít nhau, gốc vặn, do đó ít nhiều xếp thành 2 dãy, hình dải, dài 1,1 - 1,9 cm, rộng 0,20 - 0,25 cm, thót ngắn thành mũi tù và không cứng, mép hơi răng cưa, mặt dưới có hai dải lỗ khí. Cây cùng gốc.
Nón đực mọc thành cụm ở nách lá gần đầu cành. Nón cái đơn độc hoặc cụm 2 - 3, khi trưởng thành dài 2,4 - 2,8 cm, rộng 2,0 - 2,6 cm. Vẩy nón cái hình tam giác rộng, có mũi nhọn ở đầu, có răng cưa ở hai mép và hai tai tròn ở giữa, mang 3 hạt trong mỗi vẩy. Loài thuộc yếu tố Đông á.
Gỗ nhẹ, thớ mịn và có mùi thơm, dễ thao tác và bền, có giá trị sử dụng lớn để đóng đồ dùng cho gia đình, làm nhà, làm cột điện, đóng thuyền v. Từ vỏ cây tiết ra nhiều nhựa dầu dùng làm thuốc, để gắn hoặc có một số công dụng riêng .Tinh dầu Sa mộc dầu được chiết xuất làm mỹ nghệ, dược phẩm nhờ có khả năng sát trùng cao, cũng được làm thuốc xoa bóp, chữa bệnh ngoài da, đặc biệt dùng để ướp xác. Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém. Vì vậy, loài c 3 này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng loài cây gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi. Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây Sa mộc dầu. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của loài cây này, trong đó có 2 yếu tố vô cùng quan trọng đó là phương thức trồng và chế độ che bóng đến loài cây Sa mộc dầu Vì vậy hiện nay có rất ít thông tin cũng như nghiên cứu về loài cây Sa mộc dầu, để góp phân bảo vệ loài cây này ngay từ trong giai đoạn rừng trồng chúng ta cần tìm hiểu rõ về phương thức trồng và chế độ che bóng đến sinh trưởng của cây nhằm đảm bảo cho cây đạt chất lượng tốt nhất. Chính vì vậy tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức trồng và chế độ che bóng đến sinh trưởng sa mộc dầu (Cunninghamia Konishii Hayata) tại tỉnh Hà Giang”.
Mục đích,mục tiêu nghiên cứu 1. Mục đích Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của rừng trồng nhằm bảo tồn và phát triển loài cây Sa mộc dầu (Cunninghamia Konishii Hayata) 1. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được ảnh hưởng của phương thức trồng và chế độ che bóng đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu(Cunninghamia Konishii Hayata) trong giai đoạn rừng trồng Lựa chọn được chế độ che bóng và phương thức trồng phù hợp cho sinh trưởng tốt nhất ở giai đoạn rừng trồng của cây Sa mộc dầu (Cunninghamia Konishii Hayata) c 4 1. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong khoa học + Các kết quả nghiên cứu là cơ sở nghiên cứu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và xây dựng quy trình kỹ thuật trồng cây Sa mộc dầu trên các dạng phương thức trồng và chế độ che bóng khác nhau. + Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, biết áp dụng và kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. + Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học. + Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế.- Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứ khoa học, áp dụng tiến bộ khoa học vào trồng cây, bảo tồn loài.
Đây là một giải pháp bảo tồn và phát triển của loài cây Sa mộc dầu. Giúp sinh viên củng cố thêm về những kiến thức đã được học ở lý thuyết, vận dụng lý thuyết vào thực tế. Làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, bố trí thí nghiệm, xử lý, tổng hợp số liệu, viết báo cáo. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ về khả năng sinh trưởng của loài thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng trong tương lai gần là Sa mộc dầu trên các dạng phương thức trồng và chế độ che bóng khác nhau, cung cấp thông tin phục vụ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng quý hiếm của Việt Nam 1.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả đề tài là cơ sở để đề xuất một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong sản xuất giống cây Sa mộc dầu trong giai đoạn rừng trồng Áp dụng kết quả nghiên cứu để phục vụ cho công tác sản xuất cây con Sa mộc dầu giai đoạn rừng trồng có tỷ lệ sống cao, cây sinh trưởng nhanh đảm bảo chất lượng tốt, chuẩn. c 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Như chúng ta đã biết sinh trưởng và phát triển của thực vật nói chung và cây rừng nói riêng luôn chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố sinh thái, trong đó một số nhân tố giữ vai trò lớn hơn những nhân tố khác như nước và dinh dưỡng .Trong giai đoạn rừng trồng, phương thức, chế độ che bóng, ánh sáng đóng vai trò là một trong những nhân tố sinh thái chủ đạo. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm.
Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN (2006), Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam năm (2007) phần II Thực vật để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên phân chia ra các thứ hạng sau: + Bị tuyệt chủng (EX) + Tuyệt chủng trong tự nhiên(EW) Nhóm các loài nguy cấp được chú trọng bảo vệ hàng đầu gồm các phân hạng chính sau: + Cực kì nguy cấp(CR) + Nguy cấp (EN) + Sắp nguy cấp (VU) Nhóm các loài ít nguy cấp: + Ít nguy cấp: (LR) - Phụ thuộc bảo tồn: (LR/cd) - Sắp bị đe dọa: (LR/nt) c 6 - Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc) + Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD) + Không đánh giá: Not Evaluated (NE) Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ Việt Nam (2006) đã ban hành Nghị định số 32/2006/NĐ-CP. Nghị định quy định các loài động, thực vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính: + IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng). + IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IIA đối với thực vật rừng).
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại tỉnh Hà Giang có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, một trong những loài thực vật cần được bảo tồn đó chính là Sa mộc dầu, đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện đề tài. Những nghiên cứu trên thế giới 2.