Đặt vấn đề Cây đậu tƣơng (Glycine Max (L) Merrill) còn gọi là cây đậu nành là cây trồng cạn có tác dụng nhiều mặt và là cây trồng có giá trị kinh tế cao. Nó là nguồn cung cấp thực phẩm cho con ngƣời, làm thức ăn gia súc, làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp, cây làm tốt đất và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [3]. Hạt đậu tƣơng là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó đƣợc đánh giá đồng thời cả prôtêin và lipit. Theo các phân tích sinh hoá trong hạt đậu tƣơng thì hàm lƣợng prôtêin chiếm khoảng 36-40%, lipit chứa một tỷ lệ cao các axit béo chƣa no có tỷ lệ đồng hóa cao, mùi vị thơm ngon tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh.
Trong hạt đậu tƣơng không chỉ có hàm lƣợng cao về prôtêin mà nó còn chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là axit amin không thay thế nhƣ: Xystin, Lizin, Triptophan. có vai trò quan trọng đối với cơ thể con ngƣời và gia súc. Ngoài ra trong hạt đậu tƣơng còn chứa nhiều loại vitamin nhƣ: PP, A, C, E, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [12]. Trong những năm gần đây hiện tƣợng đô thị hóa ngày càng tăng lên, dẫn đến tình trạng giảm diện tích đất dùng trong mục đích nông nghiệp.
Mặt khác, do đời sống kinh tế ngày một tăng nên nhu cầu sử dụng sản phẩm chất lƣợng cao, phẩm chất tốt đƣợc đặt lên hàng đầu. Vấn đề đặt ra là phải tăng năng suất, chất lƣợng sản phẩm trên một đơn vị diện tích. Những yếu tố này chủ yếu do giống quyết định. Thái Nguyên có tổng diện tích trồng đậu tƣơng là 117,8 ha, sản lƣợng là 168,3 tấn, năng suất đạt 14,3 tạ/ha (Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên) 2010 n 2 [14].
Là một tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam có diện tích đất và điều kiện sinh thái phù hợp cho phát triển cây đậu tƣơng ở tất cả các vụ gieo trồng: Xuân, Hè, Hè Thu và Đông. Tuy nhiên sản xuất đậu tƣơng ở Thái Nguyên chƣa thực sự phát triển, hàng năm Thái Nguyên cũng phải nhập khẩu một lƣợng lớn đậu tƣơng các nƣớc trên thế giới nhƣ Trung Quốc, Mỹ, Úc để phục vụ cho chế biến thực phẩm cho con ngƣời và gia súc. Việc sản xuất đậu tƣơng của Thái Nguyên chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu. Một trong những nguyên nhân làm cho năng suất đậu tƣơng của tỉnh Thái Nguyên chƣa cao là chƣa có bộ giống tốt.
Mặc dù hiện nay sản xuất đạu tƣơng của tỉnh đã có 1 số giống mới xong chủ yếu vẫn dùng giống DT84 nên hiệu quả sản xuất chƣa cao. Do vậy, cần phải đi tìm một giống mới để đáp ứng nhu cầu của sản xuất. Trƣớc thực trạng đó, năm 2016 trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã ký kết hợp tác với phía Hàn Quốc nhập nội 300 dòng đậu tƣơng mới về khảo sát. Kết quả cho thấy có một số dòng tỏ ra có triển vọng tốt.
Để đánh giá đƣợc chính xác khả sinh trƣởng, phát triển của các dòng có triển vọng làm cơ sở cho việc chọn giống đậu tƣơng thích hợp cho tỉnh Thái Nguyên phục vụ sản xuất, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá khả năng sinh trƣởng, phát triển của tập đoàn các dòng đậu tƣơng nhập nội từ Hàn Quốc tại Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu Chọn đƣợc những dòng đậu tƣơng có khả năng sinh trƣởng , phát triển tố t tại Thái Nguyên.Yêu cầu của đề tài - Đánh giá khả năng sinh trƣởng , phát triển của tập đoàn các dòng đậu tƣơng có triể n vo ̣ng ta ̣i Thái Nguyên. - Đánh giá tin ̀ h hin ̀ h sâu bê ̣nh của tâ ̣p đoàn các dòng đâ ̣u tƣơng thí nghiê. ̣m n 3 - Đánh giá các yế u tố cấ u thành năng suấ t và năng suấ t của tâ ̣p đoàn các dòng đậu tƣơng thí nghiệm.
Trong học tập và nghiên cứu - Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích luỹ kinh nghiệm trong sản xuất, tạo lòng yêu nghề nghiệp cho sinh viên. - Giúp sinh viên nắm đƣợc các bƣớc để tiến hành nghiên cứu một đề tài khoa học, phƣơng pháp thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằ m xác định đƣợc dòng đậu tƣơng có triển vọng phù hợp với điều kiện của Thái Nguyên. Là tài liệu khoa học để giáo viên và sinh viên trong ngành tham khảo.
Trong thực tiễn sản xuất Qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ đƣa ra đƣợc nhƣ̃ng dòng đâ ̣u tƣơng tốt, năng suất cao , phù hợp với vụ Xuân tại Thái Nguyên từ đó khuyến cáo khảo nghiệm và công nhận giố ng mới. n 4 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Giống tốt đƣợc coi nhƣ một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp nông dân tăng nhanh hơn hàm lƣợng chất xám trong nông sản. Giống quy định giới hạn năng suất của cây trồng.
Năng suất chỉ tƣơng ứng với điều kiện kĩ thuật trong phạm vi do giống quy định. Khi năng suất tối đa thì dù điều kiện ngoại cảnh cũng nhƣ kĩ thuật canh tác tốt hơn cũng không thể làm tăng năng suất. Bởi vậy, giống mới có vai trò hết sức quan trọng trong công việc nâng cao năng suất và sản lƣợng cây trồng. Mỗi một giống khác nhau thì có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau.
Vì vậy để phát huy đƣợc hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu, đất đai, kinh tế xã hội. Để có những giống có năng suất, chất lƣợng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Ngày nay nhờ có những thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại và toàn cầu hóa thì công tác giống đƣợc hỗ trợ và thời gian tạo ra giống mới đƣợc rút ngắn rất nhiều. Các thành tựu khoa học đƣợc ứng dụng trong chọn giống nhƣ gây đột biến, chuyển gen, lai tạo, nhập nội giống… Các giống đậu tƣơng tại Việt nam hiện tai sử dụng chủ yếu theo lại tạo và nhập nội.
Khi chọn lọc hay nhập đƣợc giống mới thì việc khảo nghiệm tại các vùng tiểu khí hậu khác nhau để tìm ra giống tốt là rất quan trọng. Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với địa phƣơng trên các loại đất, các loại khí hậu và các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Nếu các giống mới chƣa đƣợc khảo nghiệm kỹ n 5 lƣỡng và chƣa đƣợc công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đƣa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tƣợng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Các giống đậu tƣơng chọn thí nghiệm đều có thể trồng đƣợc ở miền núi phía Bắc 2.
Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tƣơng trên thế giới và trong nƣớc 2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tƣơng là một trong những cây trồng có vi trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và lâu đời nhất của nhân loại, có lịch sử trồng trọt khoảng 5. Cây đậu tƣơng có nguồn gốc từ Đông bắc Trung Quốc, sau đó đƣợc trồng ở Nhật Bản, Triều Tiên và các nƣớc trên thế giới.
Hiện nay, có khoảng 78 nƣớc trồng đậu tƣơng, cây đậu tƣơng đã đƣợc đem trồng ở khắp các Châu lục và là cây lấy hạt, lấy dầu quan trọng bậc nhất của thế giới. Đứng hàng thứ 4 sau lúa mì, lúa nƣớc và ngô. Mặc dù cây đậu tƣơng có nguồn gốc từ Viễn Đông nhƣng khả năng thích ứng rộng nên nó đƣợc phân bố khá rộng từ 400 Vĩ Bắc đến 400 Vĩ Nam (Ma Thị Phƣơng, 2004). Châu Á tuy là nơi nguyên sản của cây đậu tƣơng tuy nhiên nó lại đƣợc trồng tập trung ở Châu Mỹ (70,03%), tiếp đó là Châu Á (23,5%), còn lại ở các châu lục khác.
Từ những năm 1970 đến nay việc sản xuất đậu tƣơng của thế giới không ngừng tăng lên so với các cây lấy dầu khác và trở thành mặt hàng xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao cho nhiều nƣớc. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới trong những năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2008 96,46 23,97 231,27 2009 99,33 22,49 223,41 2010 102,81 25,77 265,00 2011 103,81 25,19 261,59 2012 105,36 22,92 241,58 2013 111,63 24,91 278,09 2014 117,71 26,20 308,43 (Nguồn: FAO-2016) [22] Qua bảng số liệu 2.1 ta thấy: Về diện tích: Từ năm 2008 – 2014 diện tích trồng đậu tƣơng trên thế giới không ngừng tăng lên và dao động trong khoảng từ 96,46 – 117,71 triệu ha. Trong đó diện tích trồng đậu tƣơng đạt cao nhất năm 2014 là 117,71 triệu ha, tăng 21,25 triệu ha so với năm 2008. Về năng suất: tƣơng đối ổn định trong những năm gần đây, dao động từ 22,49 – 25,78 tạ/ha.
Năng suất đạt thấp nhất vào năm 2009 (22,49 tạ/ha) và cao nhất vào năm 2014 (26,20 tạ/ha). Về sản lƣợng: có xu thế tăng dần qua các năm (2008 – 2014) từ 231,27 – 308,43 triệu tấn. Tuy năm 2009 sản lƣợng giảm xuống còn 223,41 (giảm 7,86 triệu tấn so với 2008 là do năng suất thấp), nhƣng sau đó lại tăng lên vào năm 2010 (265,00 triệu tấn). Từ đó tăng dần và đạt cực đại vào năm 2014 (308,43 triệu tấn) Trên thế giới có rất nhiều quốc gia trồng đậu tƣơng tuy nhiên sản xuất đậu tƣơng tập trung chủ yếu ở 4 nƣớc : Mỹ, Brazil, Acgentina và Trung Quốc n 7 (Phạm Văn Thiều, 2006) [12].
Sản lƣợng đậu tƣơng của 4 nƣớc này chiếm 90 – 95% sản lƣợng đậu tƣơng của toàn thế giới.2: Diêṇ tích, năng suấ t và sản lƣơ ̣ng đâ ̣u tƣơng của mô ̣t số nƣớc đƣ́ng đầ u thế giới Năm 2013 Năm 2014 Diêṇ Sản Diêṇ tích Năng Năng Tên nƣớc Sản lƣợng tích lƣơ ̣ng (triêụ suấ t suấ t (triêụ tấ n) (triêụ (triêụ ha) (tạ/ha) (tạ/ha) ha) tấ n) Hoa Kỳ 30,85 29,61 91,38 33,61 32,13 108,01 Brazil 27,90 29,28 81,72 30,27 28,65 86,70 Argentina 19,42 25,39 49,31 19,25 27,73 53,39 Ấn Độ 12,20 9,7 11,95 10,90 9,6 10,52 (Nguồn: FAO-2016) [22] Qua bảng số liệu 2.2: - Diện tích lớn nhất là nƣớc Hoa Kỳ với diện tích 33,61 triệu ha tính đến năm 2014 - Năng suất là 32,13 tạ/ha - Sản lƣợng 108,01 triệu tấn 2.