Đặt vấn đề Đậu nành hay đỗ tương, đậu tương (tên khoa học Glycine max) là loại cây Đậu nành hay đỗ tương, đậu tương (tên khoa học Glycine max) là loại cây họ Đậu (Fabaceae), là loài bản địa của Đông Á. Loài này giàu hàm lượng chất đạm protein, được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc. Cây đậu nành là cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế lại dễ trồng. Sản phẩm từ cây đậu nành được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, okara.
đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày của người cũng như gia súc. Ngoài ra, trong cây đậu nành còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất các cây trồng khác. Điều này có được là hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ Đậu. (Fabaceae), là loài bản địa của Đông Á.
Loài này giàu hàm lượng chất đạm protein, được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc. Cây đậu nành là cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế lại dễ trồng. Sản phẩm từ cây đậu nành được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, okara. đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày của người cũng như gia súc.
Ngoài ra, trong cây đậu nành còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất các cây trồng khác. Điều này có được là hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ Đậu. Phân loại Chi Glycine : từng được Carl Linnaeus đưa ra năm 1737 trong ấn bản đầu tiên của quyển Genera Plantarum.Từ glycine có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp - glykys (ngọt) và có thể đề cập đến chất ngọt của củ ăn được sản xuất ở Bắc Luan van 2 Mỹ có dạng cây đậu thân leo, Glycine apios, nay là Apios americana. Đậu tương được trồng được xuất hiện đầu tiên trong quyển Species Plantarum của Linnaeus, với tên gọi Phaseolus max L.
Việc kết hợp Glycine max (L., theo đề nghị của Merrill năm 1917, đã trở thành tên gọi chính thức được công nhận của loài này. Chi Glycine Willd. được chia thành 2 phân chi Glycine và Soja. Phân chi Soja (Moench) F.
bao gồm cây đậu tương được trồng trọt Glycine max (L., và cây đậu dại Glycine soja Sieb. Cả hai loài đều là các loài cây hàng năm. Glycine soja là tổ tiên hoang dại của Glycine max, và chúng mọc hoang ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, và Nga. Phân chi Glycene bao gồm ít nhất 25 loài cây dại lâu năm, ví dụ như Glycine canescens F.
tomentella Hayata, cả hai được tìm thấy ở Úc và Papua New Guinea. Cũng giống như các loài cây trồng khác có thời gian thuần hóa lâu dài, mối quan hệ giữa các loài đậu tương hiện đại và các loài mọc hoang có thể không còn dấu vết ở bất kỳ mức độ chắc chắn nào. Đặc biệt đậu tương đen có tác dụng rất tốt cho người bị bệnh đái tháo đường, thấp khớp, suy nhược thần kinh và suy dinh dưỡng (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [6]. Đậu tương Cúc bóng là một giống đặc hữu của tỉnh Thái Nguyên.
Đã từ lâu Cúc bóng được gieo trồng tại các xã Bình Long, Phương Giao…thuộc huyện Võ Nhai. Giống cho chất lượng thơm ngon, tạo nên thương hiệu đậu phụ An Long nổi tiếng trong vùng.Tuy nhiên, hiện nay do chưa xác định được liều lượng phân bón hợp lý dẫn đến cây đậu tương Cúc bóng sinh trưởng phát triển kém cho năng suất chưa cao, diện tích trồng giống đậu tương này đang bị thu hẹ. Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài : “Nghiên cứu ảnh Luan van 3 hưởng của liều lượng phân lân đến sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương Cúc bóng tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích,yêu cầu: 1.
Mục đích : Xác định được liều lượng phân lân thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương Cúc bóng tại xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu học tập và tham khảo về xây dựng kỹ thuật thâm canh tăng năng suất cây đậu tương Cúc bóng cho huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nói riêng và các vùng có điều kiện sản xuất cây đậu tương Cúc bóng tương tự. Ý nghĩa thực tiễn: - Xác định được liều lượng phân lân hợp lý cho cây đậu tương Cúc bóng tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên từ đó khuyến cáo cho người nông dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
- Góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh cây đậu tương Cúc bóng đạt năng suất cao, bền vững cho tỉnh Thái Nguyên. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu Phát triển cây đậu tương một mặt tạo ra sự đa dạng trong sản xuất nông nghiệp, mặt khác nếu phát triển có định hướng loại cây trồng này không những giải quyết được lợi ích trước mắt mà về lâu dài đây là loại cây trồng mang lại nhiều giá trị.
Muốn vậy ngoài những chính sách về vốn, giống, phân bón, giá cả,. thì chúng ta cần có những biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp cho sản xuất. Phân bón có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng. Nhu cầu về phân bón của các giống đậu tương khác nhau rất khác nhau.
Việc bón phân nhiều hay ít đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây. Vì vậy muốn phát huy được hiệu quả của giống thì cần bón phân một cách cân đối và hợp lý. Sự sinh trưởng phát triển, khả năng cho năng suất của cây trồng chịu sự tác động sâu sắc của môi trường và điều kiện trồng trọt. Cùng một giống nhưng điều kiện chăm sóc khác nhau thì khả năng cho năng suất khác nhau.
Do vậy trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất đậu tương nói riêng việc xác định được công thức phân bón thích hợp cho mỗi giống để chúng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao nhằm đem lại hiệu quả kinh tế, có ý nghĩa thực tiễn nhằm thúc đẩy sản xuất đậu tương phát triển là rất cần thiết. Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu Trong những năm gần đây nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ có sự chuyển hướng về kinh tế thị trường, sản xuất nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn: Trước năm 1990 nước ta là một nước thiếu lương thực, thực phẩm nhưng đến năm 1990 nước ta đã là một nước Luan van 5 xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Vì vậy sản xuất nông nghiệp có điều kiện phát triển những cây trồng có giá trị kinh tế cao trong đó cây đậu tương là một trong những cây mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế bởi nó là một cây thực phẩm vừa dễ trồng lại vừa có hiệu quả kinh tế cao. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong cây lấy dầu quan trọng của thế giới: đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ dầu. Đây là trồng mang tính chiến lược với những quốc gia có điều kiện phát triển vì có trao đổi rất cao trên thị trường do nhu cầu sử dụng protein, dầu thực vật, thực phẩm chức năng và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc ngày càng gia tăng nên cây đậu tương được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở các nước châu Mỹ, tiếp đó là các nước thuộc khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ). Diện tích, năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên qua các thời kỳ. Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng trên thế giới được thể hiện ở bảng 2.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2011 103,82 25,20 261,60 2012 105,37 22,93 241,58 2013 111,63 24,91 278,09 2014 117,72 26,20 306,37 2015 120,79 26,76 323,20 2016 121,53 27,56 334,89 2017 123,55 28,54 352,64 2018 124,92 27,92 348,71 (Nguồn: FAOSTAT, 2018) Luan van 6 Qua số liệu bảng 2.1 cho thấy: Về diện tích: Từ năm 2011 - 2018 diện tích trồng đậu tương trên thế giới không ngừng tăng lên và dao động trong khoảng từ 103,81 - 124,92 (triệu ha). Trong đó diện tích trồng đậu tương đạt cao nhất là năm 2018 với 124,92 (triệu ha), tăng khoảng 21 (triệu ha) so với năm 2011. Về năng suất: Năng suất đậu tương trên thế giới những năm gần đây tương đối ổn định, dao động từ 25,19 - 28,54 (tạ/ha). Năng suất đạt thấp nhất vào năm 2012 với 22,89 (tạ/ha) và năng suất cao nhất vào năm 2017 với 28,54 (tạ/ha).
Về sản lượng: Do hàng năm diện tích trồng liên tục tăng lên nên sản lượng đậu tương trên thế giới cũng tăng lên dao động từ 141,19 - 352,64 (triệu tấn), năm 2012 đạt thấp nhất 141,19 (triệu tấn). Năm 2012 sản lượng giảm khoảng một nửa so với 2011, đến năm 2013 thì sản lượng phục hồi lại gần gấp đôi. Trong vòng 7 năm từ 2012 -2018 sản lượng đậu tương tăng khoảng 87 (triệu tấn). Sản lượng tăng như vậy là do diện tích trồng trong nhưng năm gần đây tăng lên và đã được sử dụng các tiến bộ khoa học tiên tiến vào sản xuất.
Theo dự đoán trong thời gian tới tốc độ phát triển đậu tương trên thế giới sẽ chậm hơn so với các năm trước. Kết quả nghiên cứu của trên 200 chuyên gia ở các ngành khác nhau thuộc công ty Elanco và hiệp hội đậu tương Mỹ cho thấy rằng khoảng hơn 20 năm nữa trung bình hàng năm nhu cầu về sản lượng đậu tương tăng 4% trên năm. Trong tương lai với sự trợ giúp của công nghệ sinh học, di truyền phân tử, nghiên cứu về cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng sẽ thu được nhiều kết quả tốt. Công nghệ sinh học là một trong những yếu tố quan trọng để cải tiến chất lượng hạt đậu tương và khả năng chống chịu của cây.
Luan van 7 Bảng 2.