Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Dưa chuột (Cucumis sativus L.) là loại rau ăn quả thương mại ngắn ngày thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), có vai trò cung cấp dinh dưỡng thiết yếu (protein, glucid, vitamin A, B1, B2, B6, C, khoáng chất Ca, P, Fe, K và men tiêu hóa) phục vụ tiêu dùng tươi và công nghiệp chế biến xuất khẩu. Trong canh tác nông nghiệp hiện đại, dưa chuột đòi hỏi mức độ thâm canh cao và nguồn dinh dưỡng lớn. Việc lạm dụng phân bón hóa học vô cơ kéo dài không chỉ dẫn đến tình trạng suy thoái cấu trúc đất, giảm khả năng giữ nước, ô nhiễm môi trường sinh thái mà còn phụ thuộc lớn vào nguồn phân bón nhập khẩu (vốn chiếm 90 - 93% lượng đạm, 30 - 35% lượng lân và 100% lượng kali tiêu thụ trong nước theo số liệu dẫn từ Đường Hồng Dật, 2003).

Nhằm hướng đến nền nông nghiệp bền vững và tận dụng các nguồn chất thải hữu cơ tái sinh thông qua kỹ thuật xử lý hấp phụ, đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng chế độ dinh dưỡng đến sinh trưởng, phát triển của Dưa chuột trồng nhà màng tại Công ty cổ phần đầu tư Nam Hòa Xanh, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện bởi tác giả Dương Công Thư (chuyên ngành Trồng trọt, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Lân.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là xác định được loại dung dịch dinh dưỡng thích hợp cho khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao của giống dưa chuột Baby trồng trong điều kiện nhà màng nông nghiệp công nghệ cao.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, đề tài xác định 3 nhiệm vụ/yêu cầu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định ảnh hưởng của một số loại dinh dưỡng đến sinh trưởng của giống dưa chuột Baby trồng trong nhà màng.
  2. Xác định ảnh hưởng của một số loại dinh dưỡng đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống dưa chuột Baby trồng trong nhà màng.
  3. Xác định ảnh hưởng của một số loại dinh dưỡng đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống dưa chuột Baby trồng trong nhà màng.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống dưa chuột Baby MAYA và 3 nguồn dung dịch dinh dưỡng tưới (dung dịch đối chứng pha chế theo quy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả, dung dịch xử lý từ nước tiểu người nồng độ 15 ppm, dung dịch xử lý từ nước thải biogas nồng độ 15 ppm).
  • Phạm vi không gian: Nhà màng thuộc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Hòa Xanh, xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Vụ Xuân năm 2020 (từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2020; gieo hạt ngày 29/02/2020 và đưa cây con vào bầu ngày 18/03/2020).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở khoa học

Nghiên cứu dựa trên nguyên lý dinh dưỡng khoáng cây trồng kết hợp lý thuyết bón phân cân đối. Báo cáo của FAO chỉ ra rằng việc cung cấp dinh dưỡng không cân đối làm suy giảm từ 20 - 50% hiệu suất sử dụng phân bón (Nguyễn Ngọc Nông, 1999). Việc kết hợp nguồn hữu cơ và vi lượng giúp cải thiện tính chất hóa lý của môi trường rễ, giảm sự cố định lân do phản ứng với ion $Al^{3+}$ và $Fe^{3+}$, đồng thời tăng hiệu suất hấp thu đạm vô cơ thêm 30 - 40%. Về mặt công nghệ dinh dưỡng lỏng, nghiên cứu ứng dụng phương pháp hấp phụ và giải hấp bằng than hoạt tính để thu hồi các dưỡng chất đa - trung - vi lượng hòa tan có trong nguồn nước thải biogas và nước tiểu người, chuyển hóa thành dung dịch dinh dưỡng thủy canh nồng độ 15 ppm.

Phương pháp bố trí thí nghiệm thực nghiệm

Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp khối ô vuông La tinh (Latin Square) với 3 công thức thí nghiệm (CT) và 3 lần nhắc lại (NL1, NL2, NL3):

  • Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): Dung dịch dinh dưỡng pha chế theo Quy trình kỹ thuật (QTKT) của Viện Nghiên cứu Rau quả. Quy trình pha gồm 3 bộ thùng:
    • Thùng A (hòa tan trong 100 lít nước): $KNO_3$ (3000 – 3500 g), $Ca(NO_3)_2$ (5000 g), $KH_2PO_4$ (2000 g), $KCl$ (250 – 300 g), $H_3PO_4$ (30 – 40 g).
    • Thùng B (hòa tan trong 100 lít nước): $(NH_4)_2SO_4$ (750 – 850 g), $MgSO_4$ (3500 – 4500 g), $MnSO_4$ (30 – 50 g), $ZnSO_4$ (5 – 7 g), $CuSO_4$ (6 – 8 g), Mo (1 – 1,5 g), $FeSO_4\cdot7H_2O$ (200 – 300 g).
    • Thùng C (dung dịch tưới trực tiếp): 1 lít dung dịch A + 1 lít dung dịch B + 98 lít nước sạch; dùng khoảng 0,75 kg KOH hoặc NaOH cho mỗi 1.000 lít nước để nâng pH từ 4,2 lên ngưỡng thích hợp 6,0; duy trì độ dẫn điện EC = 1 mS/cm.
  • Công thức 2 (CT2): Dung dịch dinh dưỡng điều chế từ nước tiểu người ở nồng độ 15 ppm qua chu trình hấp phụ - giải hấp than hoạt tính (than ngâm ngập nước tiểu 10 ngày đến khi EC ổn định, phơi khô than, tiếp tục ngâm nước sạch 10 ngày để giải hấp thu dung dịch dinh dưỡng).
  • Công thức 3 (CT3): Dung dịch dinh dưỡng điều chế từ nước biogas ở nồng độ 15 ppm theo phương pháp hấp phụ - giải hấp than hoạt tính tương tự CT2.

Quy trình canh tác và chăm sóc trong nhà màng

  • Cây con được trồng trong túi bầu giá thể thể tích 15 lít (đường kính 30 cm $\times$ chiều cao 35 cm). Thành phần giá thể phối trộn theo tỷ lệ thể tích: 1/2 trấu hun + 1/4 phân chuồng nghiền nhỏ + 1/4 đất màu nghiền mịn, ủ với chế phẩm sinh học EM liều lượng 400 ml/tấn (hoặc 400 g/tấn) trong 1 tuần trước khi đóng bầu.
  • Mật độ trồng: 30.000 cây/1.000 $m^2$ diện tích nhà màng. Bố trí hàng kép (khoảng cách giữa 2 hàng đơn là 0,45 m; hàng cách hàng 1,5 m; khoảng cách cây cách cây trên hàng là 0,45 m).
  • Chế độ tưới dung dịch: Giai đoạn 1 tháng sau trồng tưới 3 – 5 lần/ngày với lượng 0,9 – 1,5 lít/cây/ngày đêm; giai đoạn 2 – 3 tháng sau trồng tăng lên 5 – 6 lần/ngày với lượng 1,5 – 1,8 lít/cây/ngày đêm.
  • Biện pháp bổ trợ: Buộc dây cước leo giàn, tỉa nhánh phụ từ đốt thứ 10 trở xuống, khống chế 4 – 6 quả/chùm; thực hiện rung hoa thụ phấn thủ công mỗi sáng từ 8h30 đến 10h30 từ khi bắt đầu nở hoa.

Phương pháp theo dõi chỉ tiêu và xử lý số liệu

  • Chọn mẫu: Mỗi ô thí nghiệm theo dõi ngẫu nhiên 1 điểm gồm 10 cây liên tục; đo đếm mẫu định kỳ 7 ngày/lần.
  • Chỉ tiêu nông học: Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng (mọc mầm, 4 lá thật, ra tua cuốn, phân cành, nở hoa cái đầu tiên, thu hoạch lứa đầu, tổng chu kỳ); động thái tăng trưởng chiều dài thân chính và tốc độ ra lá; mức độ hại của sâu xanh, sâu xám, bọ dừa (theo công thức của Vương Triệu Mẫn, 2001) và cấp bệnh hại sương mai, phấn trắng (thang điểm 1 - 5).
  • Chỉ tiêu năng suất: Số hoa cái/cây, số quả đậu/cây, tỷ lệ đậu quả (%), chiều dài quả (cm), đường kính quả (cm), số quả thu hoạch/cây, khối lượng trung bình/quả (g), năng suất lý thuyết và năng suất thực thu (tấn/ha).
  • Xử lý số liệu: Số liệu được thu thập và xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel và chương trình thống kê sinh học SAS 9.0; so sánh sai khác giá trị trung bình giữa các công thức bằng chỉ số $LSD_{0.05}$, mức ý nghĩa $P$ và hệ số biến động $CV (%)$.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của việc phát triển cây dưa chuột trong hệ thống canh tác nông nghiệp công nghệ cao nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm đô thị và chế biến xuất khẩu. Chương này đặt vấn đề về sự mất cân đối khi sử dụng phân bón hóa học đơn thuần, từ đó xác lập mục tiêu đánh giá các dung dịch dinh dưỡng hữu cơ tái sinh (từ nước tiểu người và biogas) đối với giống dưa chuột Baby MAYA vụ Xuân 2020 tại tỉnh Thái Nguyên, phục vụ mục tiêu kinh tế và an toàn môi trường.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp toàn diện các nghiên cứu trong nước và quốc tế về cây dưa chuột:

  • Cơ sở sinh học và giá trị: Cây có nguồn gốc vùng nhiệt đới ẩm Nam Á. Phân tích hàm lượng trong 100g phần ăn được: 95,0g nước; 0,8g protein; 3,0g glucid; 0,5g tro; 16 kcal năng lượng; các vitamin $B_1$ (0,03 mg), $B_2$ (0,04 mg), PP (0,10 mg), C (5,0 mg) cùng các nguyên tố khoáng Ca (23 mg), P (27 mg), Fe (1 mg), K (169 mg).
  • Tình hình sản xuất toàn cầu và Việt Nam: Theo số liệu FAO, năm 2017 sản lượng dưa chuột toàn cầu đạt 77.293 nghìn tấn trên diện tích 2.257 nghìn ha (năng suất 387,996 tạ/ha). Trong đó Châu Á dẫn đầu với sản lượng 68.409 nghìn tấn, riêng Trung Quốc chiếm 59.514 nghìn tấn. Tại Việt Nam, dưa chuột là cây rau quả chủ lực xuất khẩu đạt giá trị kinh tế cao tại đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
  • Nghiên cứu về phân bón và dinh dưỡng nhà kính: Lược khảo các công trình nghiên cứu sử dụng giá thể túi bầu tại Đại học Maryland, các công thức phối trộn phân khoáng của Viện Rau quả và các nghiên cứu của Tạ Thu Cúc (2000), Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2001) về việc bổ sung supe lân và N-P-K trong sản xuất rau giá thể.

Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa điểm nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Hòa Xanh, quy chuẩn vật liệu (giống dưa Baby MAYA), thiết kế 3 công thức thí nghiệm theo khối ô vuông La tinh, định mức dung dịch tưới, cấu tạo hóa chất phối trộn dinh dưỡng khoáng tiêu chuẩn, kỹ thuật xử lý hấp phụ bằng than hoạt tính, kỹ thuật khử trùng nhà màng bằng 4 kg Clorin/200 lít nước kết hợp xử lý vôi bột và phun Aldrin bao quanh hàng rào. Hệ thống hóa toàn bộ công thức tính toán và thang đo nông học sử dụng trong xử lý dữ liệu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung trình bày các dữ liệu thực nghiệm qua 7 bảng số liệu và 2 biểu đồ, so sánh chi tiết các công thức thí nghiệm về thời gian sinh trưởng, động thái vươn thân, tốc độ ra lá, tình hình dịch hại và năng suất thương phẩm.


Kết quả và đóng góp

1. Ảnh hưởng của dung dịch dinh dưỡng đến các giai đoạn sinh trưởng

Thời gian qua các pha sinh trưởng của giống dưa chuột Baby MAYA biến động không lớn giữa các công thức dinh dưỡng:

Chỉ tiêu theo dõi (ngày sau gieo) CT1 (Đối chứng) CT2 (Nước tiểu) CT3 (Biogas)
Thời gian từ gieo đến mọc mầm 5 5 5
Thời gian từ gieo đến 4 lá thật 18 17 17
Thời gian từ gieo đến ra tua cuốn 21 20 23
Thời gian từ gieo đến phân cành 22 21 24
Thời gian từ gieo đến hoa cái đầu tiên 24 22 25
Thời gian từ gieo đến thu hoạch lần 1 55 55 55
Tổng thời gian sinh trưởng (ngày) 74 75 77

Dung dịch dinh dưỡng từ nước tiểu (CT2) giúp cây xuất hiện hoa cái sớm nhất (22 ngày sau gieo, sớm hơn đối chứng 2 ngày). Tổng chu kỳ sinh trưởng dao động từ 74 đến 77 ngày, thích hợp cho việc bố trí gối vụ thâm canh.

2. Động thái tăng trưởng chiều dài thân chính và ra lá

Động thái phát triển thân lá đạt tốc độ cao nhất trong giai đoạn từ sau 27 ngày đến 45 ngày sau trồng:

Thời điểm theo dõi (ngày sau trồng) Chiều dài thân chính (cm) Số lá thật trên thân chính (lá)
CT1 CT2 CT3 CT1 CT2 CT3
13 ngày 38,37 36,76 21,98 8,00 8,20 6,93
20 ngày 63,62 62,66 43,10 11,93 13,06 10,66
27 ngày 91,98 89,68 69,13 15,46 16,80 14,40
34 ngày 117,82 116,04 95,54 21,33 21,46 18,46
45 ngày 189,42 175,15 154,28 29,26 29,26 28,73
Thu hoạch đợt cuối 228,88 210,45 195,10 32,46 32,66 31,66

Tại thời điểm thu hoạch cuối cùng, chiều dài thân chính của CT1 đạt cao nhất (228,88 cm), CT2 đạt 210,45 cm (sai khác không có ý nghĩa thống kê so với CT1 ở mức $P > 0,05$), CT3 đạt thấp nhất (195,10 cm, sai khác có ý nghĩa ở mức $P < 0,05$). Số lá trên thân chính ở đợt thu cuối giữa 3 công thức không có sự sai khác thống kê ($P > 0,05$), đạt từ 31,66 đến 32,66 lá/thân.

3. Tình hình phát sinh sâu bệnh hại

  • Sâu hại (sâu xanh, sâu xám, bọ dừa): Tỷ lệ hại đạt 0% ở tất cả các công thức nhờ hệ thống lưới chắn côn trùng chuyên dụng của nhà màng kết hợp vệ sinh ngoại vi.
  • Bệnh hại: Bệnh sương mai xuất hiện ở mức nhẹ (điểm 2: dưới 20% diện tích lá bị hại) trên cả 3 công thức. Bệnh phấn trắng xuất hiện ở CT1 ở điểm 3 (20 – 40% diện tích lá bị hại), trong khi CT2 và CT3 chỉ nhiễm ở điểm 2 (dưới 20% diện tích lá bị hại).

4. Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thương phẩm

Chỉ tiêu theo dõi CT1 (Đối chứng) CT2 (Nước tiểu) CT3 (Biogas) Mức ý nghĩa ($P$) $LSD_{0.05}$
Số hoa cái/cây (hoa) 33,60 33,33 31,20 $< 0,01$ 0,84
Số quả đậu/cây (quả) 25,40 27,86 26,00 $< 0,05$ 1,57
Tỷ lệ đậu quả (%) 75,62 83,68 83,41 $< 0,05$ 6,23
Chiều dài quả (cm) 20,50 18,73 13,52 $< 0,01$ 0,23
Đường kính quả (cm) 3,04 2,87 2,56 $< 0,01$ 0,08
Số quả thu hoạch/cây (quả) 20,80 23,40 17,06 $< 0,01$ 0,68
Khối lượng quả (g) 81,00 74,92 64,73 $< 0,01$ 0,73
Năng suất lý thuyết (tấn/ha) 50,54 52,59 33,14 $< 0,01$ 1,73
Năng suất thực thu (tấn/ha) 44,11 46,93 29,60 $< 0,01$ 4,32
  • Về tỷ lệ đậu quả và số quả: CT2 đạt số quả thu hoạch/cây cao nhất (23,40 quả/cây) và tỷ lệ đậu quả cao (83,68%), vượt trội chắc chắn so với CT1 (20,80 quả/cây và 75,62%) ở độ tin cậy 99% ($P < 0,01$).
  • Về kích thước và khối lượng: CT1 có quả dài nhất (20,50 cm) và khối lượng lớn nhất (81,00 g/quả). CT2 có kích thước quả đạt 18,73 cm chiều dài, 2,87 cm đường kính và khối lượng 74,92 g/quả (đáp ứng tốt tiêu chuẩn thương phẩm dưa Baby).
  • Về năng suất: Năng suất thực thu của CT2 đạt cao nhất với 46,93 tấn/ha, sai khác không có ý nghĩa thống kê so với CT1 (44,11 tấn/ha, $P > 0,05$), nhưng vượt trội hoàn toàn so với CT3 (29,60 tấn/ha, $P < 0,01$). Năng suất của CT3 đạt thấp do dung dịch chiết xuất từ nước biogas thiếu hụt một số khoáng chất thiết yếu làm giảm số quả/cây và trọng lượng quả.

Đề xuất và giải pháp của tác giả

  1. Có thể ứng dụng dung dịch dinh dưỡng hữu cơ lỏng điều chế từ nước tiểu người (nồng độ 15 ppm qua xử lý than hoạt tính) để thay thế dung dịch hóa học thương phẩm cho giống dưa chuột Baby MAYA trồng trong nhà màng nhằm tiết kiệm chi phí đầu vào và giảm thiểu tác hại môi trường.
  2. Cần triển khai thêm các phân tích chuyên sâu về hàm lượng các nguyên tố khoáng đa lượng, vi lượng trong dung dịch và đánh giá dư lượng, phẩm chất dinh dưỡng của quả dưa chuột trước khi nhân rộng sản xuất thương mại quy mô lớn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chỉ được bố trí thực nghiệm trong phạm vi một vụ Xuân duy nhất năm 2020 tại một địa điểm nhà màng cụ thể (huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên); chưa tiến hành phân tích định lượng thành phần hóa học chi tiết (hàm lượng $N, P, K, Ca, Mg$, kim loại nặng) có trong dung dịch giải hấp từ than hoạt tính; chưa kiểm tra các chỉ tiêu sinh hóa chất lượng quả sau thu hoạch như độ Brix, hàm lượng nitrat tồn dư ($NO_3^-$), hàm lượng vitamin C.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, lặp lại thí nghiệm trong các mùa vụ khác nhau trong năm (vụ Thu Đông, Đông Xuân); hoàn thiện quy trình kiểm nghiệm an toàn thực phẩm và phân tích các thông số chất lượng quả nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật chuẩn cho sản xuất nông nghiệp tuần hoàn.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Nông học, Trồng trọt, Khoa học Cây trồng, Nông nghiệp Công nghệ cao: Tham khảo chi tiết phương pháp bố trí thí nghiệm ô vuông La tinh trên cây rau ăn quả, cách thức theo dõi các chỉ tiêu nông học định kỳ và phương pháp phân tích phương sai ($LSD$, $CV%$, $P$) bằng phần mềm chuyên dụng (SAS).
  • Kỹ sư nông nghiệp và cơ sở sản xuất nhà màng: Tham khảo quy trình phối trộn dinh dưỡng 3 thùng (A, B, C) chuẩn của Viện Nghiên cứu Rau quả; công thức phối trộn giá thể bầu 15 lít từ trấu hun, phân chuồng và đất màu ủ men vi sinh EM; kỹ thuật rung hoa thụ phấn bổ trợ trong môi trường kín gió.
  • Nhà nghiên cứu về nông nghiệp tuần hoàn và môi trường: Tham khảo phương pháp thực nghiệm ứng dụng than hoạt tính để hấp phụ và giải hấp dưỡng chất từ nguồn nước thải biogas và nước tiểu thành dinh dưỡng tưới cho cây trồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu đã thử nghiệm những loại dung dịch dinh dưỡng cụ thể nào trên cây dưa chuột Baby?
Nghiên cứu thử nghiệm 3 loại dung dịch dinh dưỡng: (1) Dung dịch đối chứng pha chế theo Quy trình kỹ thuật của Viện Nghiên cứu Rau quả gồm các muối khoáng đa, trung, vi lượng; (2) Dung dịch sản xuất từ nước tiểu người ở nồng độ 15 ppm; (3) Dung dịch sản xuất từ nước thải hầm biogas ở nồng độ 15 ppm.

2. Kỹ thuật sản xuất dung dịch thủy canh từ nước tiểu người và nước thải biogas được tác giả thực hiện như thế nào?
Dung dịch được tạo ra bằng phương pháp hấp phụ và giải hấp qua than hoạt tính. Than hoạt tính được rửa sạch đến khi nước trong, cho vào thùng ngâm ngập nước tiểu hoặc nước biogas trong khoảng 10 ngày (mực nước cao hơn mặt than 10 - 15 cm) cho đến khi chỉ số EC không đổi. Sau đó, đổ hết nước ra, phơi khô than rồi đổ ngập nước sạch vào ngâm tiếp 10 ngày cho đến khi EC ổn định để thu được dung dịch dinh dưỡng.

3. Hiệu quả năng suất của dung dịch nước tiểu người (CT2) so với công thức đối chứng hóa học (CT1) ra sao?
Dung dịch nước tiểu người (CT2) cho năng suất thực thu đạt 46,93 tấn/ha, cao hơn công thức đối chứng CT1 (44,11 tấn/ha), sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê ở mức $P > 0,05$. Tuy nhiên, CT2 vượt trội CT1 về tỷ lệ đậu quả (83,68% so với 75,62%) và số quả thu hoạch/cây (23,40 quả so với 20,80 quả).

4. Tại sao tỷ lệ hại do sâu hại trong thí nghiệm lại ghi nhận bằng 0%?
Toàn bộ thí nghiệm được bố trí bên trong nhà màng khép kín có hệ thống lưới chắn côn trùng xung quanh, trước khi trồng được khử trùng bằng 4 kg Clorin/200 lít nước kết hợp rải vôi bột và phun thuốc Aldrin phòng trừ côn trùng bò quanh khu vực bên ngoài nhà màng, do đó các đối tượng sâu xanh, sâu xám và bọ dừa hoàn toàn không phát sinh gây hại.

5. Vì sao công thức sử dụng nước biogas (CT3) lại cho năng suất thấp nhất?
Công thức CT3 chỉ đạt năng suất thực thu 29,60 tấn/ha (thấp hơn CT1 và CT2 ở độ tin cậy 99%, $P < 0,01$). Nguyên nhân do dung dịch chiết xuất từ nước biogas qua phương pháp hấp phụ - giải hấp bị thiếu hụt một số nguyên tố khoáng dinh dưỡng thiết yếu, làm giảm chiều dài quả (13,52 cm), giảm khối lượng trung bình của quả (chỉ đạt 64,73 g/quả) và giảm số quả thu hoạch/cây (chỉ đạt 17,06 quả/cây).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Công Thư đã chứng minh tính khả thi của việc sử dụng dung dịch dinh dưỡng tái chế từ nước tiểu người (nồng độ 15 ppm) qua phương pháp hấp phụ bằng than hoạt tính để canh tác dưa chuột Baby MAYA trong nhà màng tại Thái Nguyên. Kết quả cho thấy công thức dinh dưỡng từ nước tiểu giúp cây đạt tỷ lệ đậu quả 83,68% và năng suất thực thu 46,93 tấn/ha, tương đương với công thức đối chứng dinh dưỡng khoáng thương phẩm của Viện Nghiên cứu Rau quả (44,11 tấn/ha). Đây là nguồn tư liệu thực nghiệm có giá trị khoa học và thực tiễn cho việc phát triển các mô hình nông nghiệp công nghệ cao gắn liền với kinh tế tuần hoàn và canh tác an toàn sinh học.