Luận văn thạc sĩ đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai tại huyện định hóa tỉnh thái, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô lai

Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng ngô laiphát triển ngô lai tại Định Hóa, Thái Nguyên tập trung vào các giai đoạn phát dục và thời gian sinh trưởng của các giống ngô. Kết quả cho thấy, các tổ hợp ngô lai có thời gian sinh trưởng dao động từ 95 đến 110 ngày, phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của vùng. Các giai đoạn như tung phấn, phun râu và chín sinh lý được theo dõi kỹ lưỡng, giúp xác định khả năng thích ứng của từng giống.

1.1. Giai đoạn tung phấn và phun râu

Giai đoạn tung phấn và phun râu là thời kỳ quan trọng quyết định năng suất ngô. Các tổ hợp ngô lai được nghiên cứu có thời gian tung phấn và phun râu đồng đều, dao động từ 55 đến 65 ngày sau gieo. Điều này cho thấy khả năng đồng bộ trong quá trình sinh sản, giúp tối ưu hóa tỷ lệ đậu hạt.

1.2. Giai đoạn chín sinh lý

Giai đoạn chín sinh lý kéo dài từ 30 đến 35 ngày, với sự chênh lệch nhỏ giữa các giống. Các tổ hợp ngô lai có thời gian chín đồng đều, đảm bảo thu hoạch tập trung và giảm thiểu thất thoát sau thu hoạch.

II. Đặc điểm hình thái và khả năng chống chịu

Nghiên cứu đánh giá các đặc điểm hình thái như chiều cao cây, chiều cao đóng bắpchỉ số diện tích lá (LAI) của các tổ hợp ngô lai. Kết quả cho thấy, chiều cao cây dao động từ 180 đến 220 cm, chiều cao đóng bắp từ 80 đến 100 cm, và LAI từ 3.5 đến 4.5. Các giống ngô cũng được đánh giá về khả năng chống chịu sâu bệnh, đặc biệt là sâu đục thânbệnh khô vằn.

2.1. Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp

Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp là hai chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá sinh trưởng ngô lai. Các tổ hợp ngô lai có chiều cao cây trung bình 200 cm và chiều cao đóng bắp 90 cm, phù hợp với điều kiện canh tác tại Định Hóa, Thái Nguyên.

2.2. Khả năng chống chịu sâu bệnh

Khả năng chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp ngô lai được đánh giá qua tỷ lệ nhiễm sâu đục thânbệnh khô vằn. Kết quả cho thấy, các giống có tỷ lệ nhiễm thấp, dao động từ 5% đến 10%, chứng tỏ khả năng thích ứng tốt với điều kiện sinh thái của vùng.

III. Yếu tố cấu thành năng suất và hiệu quả kinh tế

Nghiên cứu tập trung vào các yếu tố cấu thành năng suất ngô như chiều dài bắp, đường kính bắp, số hàng trên bắp, số hạt trên hàngkhối lượng nghìn hạt. Kết quả cho thấy, các tổ hợp ngô lai có năng suất lý thuyết từ 8 đến 10 tấn/ha và năng suất thực thu từ 7 đến 9 tấn/ha. Điều này khẳng định tiềm năng của các giống ngô lai trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân.

3.1. Các yếu tố cấu thành năng suất

Các yếu tố như chiều dài bắp, đường kính bắp, số hàng trên bắpsố hạt trên hàng được đánh giá kỹ lưỡng. Các tổ hợp ngô lai có chiều dài bắp trung bình 18 cm, đường kính bắp 4.5 cm, số hàng trên bắp 14 và số hạt trên hàng 30, đóng góp tích cực vào năng suất tổng thể.

3.2. Hiệu quả kinh tế

Nghiên cứu chỉ ra rằng, các tổ hợp ngô lainăng suất ngô cao và ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể cho người dân. Việc áp dụng các kỹ thuật trồng ngô tiên tiến và sử dụng phân bón cho ngô hợp lý cũng góp phần tăng năng suất và chất lượng ngô.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Hiện nay diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các khu đô thị, khu công nghiệp, đường giao thông…. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, hạn hán, lũ lụt ngày càng nặng nề hơn, sâu bệnh mới xuất hiện, biện pháp canh tác không phù hợp nên một số nơi đã gây ra tình trạng xói mòn đất. Song vấn đề đặt ra là phải đảm bảo tăng năng suất và sản lượng dù diện tích giảm.

Do vậy các nhà chọn tạo giống cây trồng nói chung, cây ngô nói riêng đã đẩy mạnh việc chọn, tạo các giống ngô mới theo hướng năng suất cao, phẩm chất tốt, khả năng chống chịu tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái. Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước đã khẳng định giống cây trồng là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú, đa dạng chúng ta có thể thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết khí hậu của từng vùng, làm đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng cây trồng là những tính trạng số lượng, ngoài phụ thuộc vào giống chúng còn chịu ảnh hưởng rất lớn tác động của điều kiện ngoại cảnh.

Do vậy, để có giống tốt đưa vào sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa phương thì trước khi đưa vào sản xuất cần được khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau để đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, độ ổn định, khả năng thích ứng với điều kiện ngoại cảnh bất thuận thì mới lựa chọn được giống phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng nhằm phát huy được các đặc tính tốt của giống mới và tránh những rủi ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh thái tại cơ sở sản xuất. Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô trên thế giới 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Nhờ những tiến bộ trong nghiên cứu và sản xuất mà diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới tăng lên liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, nhất là trong hơn 40 năm gần đây. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới năm 2006 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2006 146,8 48,2 706,9 2007 158,4 49,9 790,3 2008 162,7 51,1 830,6 2009 158,7 51,8 820,2 2010 163,9 51,9 851,3 2011 171,3 51,8 886,9 2012 178,6 48,9 873,1 2013 185,6 54,6 1014,3 2014 184,8 56,2 1037,8 2015 177,7 54,1 960,7 2016 181,4 57,3 1040,2 Tốc độ tăng trưởng 2,36 1,89 4,71 (%/năm) (Nguồn: FAOSTAT,2017)(USDA,2017) [31][32] Qua bảng 1.1 cho thấy trong vòng 10 năm, tốc độ tăng trưởng về diện tích trồng ngô trên thế giới là 2,36%/năm, về năng suất là 1,89%/năm và sản lượng là 4,71%/năm.

Cụ thể từ năm 2006 đến 2016 diện tích trồng ngô tăng từ 146,8 triệu ha lên 181,4 triệu ha, năng suất tăng từ 48,2 tạ/ha lên tới 57,3 tạ/ha kéo theo sản lượng tăng từ 706,9 triệu tấn lên 1040,2 triệu tấn.2: Tình hình sản xuất ngô của một số nước tiêu biểu trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 35,2 109,6 384,8 Trung Quốc 36,8 59,7 219,6 Brazil 16,7 51,8 86,5 Mêxico 7,5 34,7 26,0 Canada 1,3 99,6 13,3 (Nguồn: USDA, 2017)[32] Theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA), Mỹ là cường quốc đứng số một trồng ngô trên thế giới. Năm 2016, năng suất đạt 109,6 tạ/ha gấp gần 2 lần trung bình năng suất ngô thế giới dẫn đến sản lượng ngô cao nhất thế giới đạt 384,8 triệu tấn. Có được điều đó là do Mỹ áp dụng cộng nghệ sinh học để cải thiện năng suất cũng như tăng khả năng chống chịu của các giống ngô. Trung Quốc cũng là quốc gia sản xuất ngô lớn đang không ngừng phát triển về diện tích.

Năm 2016, diện tích ngô của Trung Quốc là 36,8 triệu ha đứng đầu thế giới và cao hơn 1,6 triệu ha so với Mỹ. Tuy nhiên do năng suất chưa cao (59,7 tạ/ha) nên sản lượng đứng thứ 2 thế giới là 219,6 triệu tấn. Sau Mỹ và Trung Quốc phải kể đến sự phát triển trong sản xuất ngô của Brazil (sản lượng 86,5 triệu tấn), Mexico (sản lượng 26,0 triệu tấn) và Canada (sản lượng 13,3 triệu tấn). Kết quả trên có được, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật trong canh tác ngô.

Tuy nhiên trong sản xuất hiện nay có sự khác biệt rõ ràng về năng suất giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Năng suất ngô trung bình của các nước phát triển là 7,8 tấn/ha, các nước đang phát triển là 2,7 tấn/ha, (FAOSTAT, 2017) [31]. Hai nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch này là: 7 - Tỷ lệ sử dụng giống ngô lai khác nhau trong sản xuất. Ở các nước phát triển 90-100% diện tích ngô được trồng bằng các giống lai có ưu thế lai cao, trong khi đó các nước đang phát triển diện tích trồng giống ngô lai rất thấp (37%) còn lại 63% diện tích là trồng các giống thụ phấn tự do.

- Khả năng đầu tư và trình độ thâm canh của người sản xuất. Dự kiến năm 2050, sản lượng ngô sẽ đạt 1.178 triệu tấn (Hình 1.1), diện tích thu hoạch 194 triệu ha (với mức tăng trưởng hàng năm khu vực có mưa là 0,65% / năm, có tưới 0,2% /năm) và năng suất 6,1 tấn/ha (khu vực có mưa là 5,65 tấn/ha, khu vực có tưới 7,43 tấn/ha) (FAOSTAT, 2012). Nhu cầu toàn cầu tăng mạnh, dự kiến sẽ duy trì ở mức tương đối cao, sản lượng hàng năm đã tăng trung bình 1,4% mỗi năm, khu vực tăng trung bình 0,4% mỗi năm và sản lượng được dự báo sẽ tăng lên 1.016 triệu tấn vào năm 2018/19, so với 948 triệu tấn so với niên vụ 2013/14 (Bảng 1.3), và tiêu thụ đa dạng hóa, khoảng 48% đối với thức ăn chăn nuôi (IGC). Dự báo sản xuất ngô thế giới đến 2050 (IGC, 2014)[26] 8 Bảng 1.

Cung cầu trung hạn và tóm tắt nhu cầu ngô của thế giới Thay đổi năng suất/năm Trước Bình quân Chỉ tiêu/ Bình 12/13 13/14 14/15 15/16 16/17 17/18 18/19 14/15- năm quân 14/15 18/19 5 năm Nang suất 4,9 5,4 5,4 5,5 5,6 5,7 5,7 1,3% 0,3% 1,4% (tấn/ha) Diện tích 177 175 174 175 176 176 177 2. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới Ngô là cây trồng có vai trò quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới vì góp phần giải quyết nhu cầu lương thực con người và là nguồn thức ăn chủ lực cho chăn nuôi. Ngoài ra, với sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến hiện nay từ ngô đã tạo ra hơn 670 loại mặt hàng khác nhau. Chính vì vậy nhu cầu sử dụng ngô ngày càng tăng.

Theo USDA niên vụ 2015/16 thế giới tiêu thụ khoảng 968 triệu tấn ngô và niên vụ 2016/17 là khoảng 1. Lượng ngô thế giới được tiêu thụ rất nhiều do nhu cầu sử dụng ngô làm nhiên liệu sinh học ethanol và si rô ngô đang tăng cao. Ước tính trong năm 2015 lượng ethanol được tiêu thụ ra lên tới 188 triệu mét khối và trong năm 2016 là 190 triệu mét khối (USDA, 2017) [32]. Si rô ngô cũng đang là một mặt hàng rất có giá trị dùng trong công nghiệp thực phẩm, lượng si rô ngô sản xuất ra năm 2015 là 8,46 triệu tấn còn năm 2016 là 8,34 triệu tấn (USDA, 2017)[32].

Trước nhu cầu nhiên liệu sinh học, si rô thực phẩm ngày càng tăng, lượng nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt dự báo trong tương lai ngô vẫn sẽ là mặt hàng có nhiều giá trị kinh tế cao đóng góp vào nền kinh tế các quốc giá trồng ngô trên thế giới. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới Nghiên cứu chọn tạo và đưa các giống ngô lai vào sản xuất là thành tựu nổi bật của nền nông nghiệp thế giới, nhờ đó tạo bước tiến nhảy vọt trong năng suất và sản lượng ngô. Nhờ những tiến bộ trong nghiên cứu ứng dụng ưu thế lai vào việc tạo giống ngô đã cải thiện đáng kể năng suất và khả năng chống chịu của giống như chống đổ, kháng sâu bệnh và có thể trồng với mật độ cao. Nên hiện nay giống lai được sự dụng ở tất các nước sản xuất ngô trên thế giới.

Từ kết quả đánh giá mối tương quan giữa một số chỉ tiêu hình thái và năng suất của Duvick và cs (2005)[25] cho thấy được xu thế các tính trạng được chọn cho giống ngô lai mới.4: Xu hướng chọn lọc các tính trạng cho giống ngô lai mới Các tính trạng Xu hướng chọn lọc Kích thước bông cờ Giảm Góc lá Không thay đổi Số cây đẻ nhánh Giảm Chênh lệch thời gian tung phấn phun râu Giảm % cây vô hiệu Giảm Bộ lá bền Tăng Chịu sâu đục bắp Tăng Chịu đốm lá lớn Tăng % Protein Giảm % Tinh bột Tăng Nguồn: D. Duvick và cs, 2005[25] 10 Những tiến bộ vượt bậc trong công nghệ gen đã cho ra nhiều giống ngô biến đổi gen (GM) có khả năng chống chịu thuốc diệt cỏ, chịu hạn, kháng côn trùng, đạt năng suất cao hoặc có các tính chất theo ý muốn. Giống ngô GM đầu tiên được chấp nhận tại Mỹ vào ngày 17/5/1995 là SYN-EV176-9 có đặc điểm chống chịu thuốc trừ cỏ glufosinate và kháng sâu bộ cánh vảy Lepidoptera. Từ đó đến nay đã có 69 giống ngô GM được chấp nhận trên thế giới, các quốc gia tiên phong chấp nhận ngô biến đổi gen (GM) là Nhật, Mỹ, Mexico, Canada.

Diện tích trồng ngô GM phát triển mạnh trên thế giới, bắt đầu từ 1996 đến nay đã có hơn 50 triệu ha trồng ngô GM ở 17 quốc gia. Nhờ sử dụng cây trồng biến đổi gen mà đã giảm khoảng 0,39 triệu tấn thuốc trừ sâu và giảm khoảng 17,1 các chất độc hại thải ra môi trường từ thuốc bảo vệ thực vật. Công nghệ sinh học cũng được được ứng dụng rộng rãi để cải thiện chất lượng ngô. Lili Jiang và các cộng sự thuộc ĐH Northeast Normal, Trung Quốc nghiên cứu nhằm cải tiến hàm lượng tinh bột và thành phần tinh bột của ngô thông qua cách tiếp cận multigene engineering để tập trung vào các tính trạng phức tạp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh Giá Sinh Trưởng Và Phát Triển Của Các Tổ Hợp Ngô Lai Tại Định Hóa, Thái Nguyên là một nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả sinh trưởng và phát triển của các giống ngô lai tại khu vực Định Hóa, Thái Nguyên. Tài liệu này cung cấp những phân tích chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng ngô, từ đó giúp nông dân và nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện để cải thiện quy trình canh tác. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt cây ngô.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học cây trồng khảo sát khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của 6 tổ hợp lai bắp ngọt zea mays var saccharata triển vọng tại vùng đông nam bộ, nghiên cứu này tập trung vào các giống bắp ngọt và hiệu quả của chúng trong điều kiện cụ thể. Ngoài ra, Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây hoài sơn tại huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của phân bón đến cây trồng. Cuối cùng, Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống quýt ngọt không hạt citrus unshiu marc tại thái nguyên sẽ mang đến góc nhìn mới về việc ứng dụng phân bón trong nông nghiệp. Hãy khám phá để nâng cao hiểu biết của bạn!