Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất ngô giữ vai trò chiến lược trong an ninh lương thực toàn cầu và ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi. Năm 2013, tổng sản lượng ngô thế giới đạt 1.016,7 triệu tấn trên diện tích 184,2 triệu ha. Tại Việt Nam, sản lượng ngô năm 2013 đạt 5.190,9 nghìn tấn trên diện tích 1.170,3 nghìn ha, tăng gấp 7,7 lần về sản lượng và 2,9 lần về năng suất so với năm 1990 (chỉ đạt 671,0 nghìn tấn và 15,5 tạ/ha). Mặc dù tỷ lệ diện tích sử dụng giống ngô lai cả nước đã đạt trên 95%, nhưng năng suất bình quân của Việt Nam năm 2013 chỉ đạt 44,4 tạ/ha, tương đương 80,4% mức trung bình thế giới (55,2 tạ/ha) và 44,5% năng suất bình quân của Mỹ (99,7 tạ/ha).

Nhu cầu ngô phục vụ chăn nuôi trong nước không ngừng tăng cao, dẫn đến lượng ngô hạt nhập khẩu năm 2014 lên tới 4,79 triệu tấn với kim ngạch 1,22 tỷ USD (tăng 82,09% so với năm 2013). Các tỉnh miền núi phía Bắc chiếm tới 43,2% diện tích ngô cả nước nhưng thường xuyên đối mặt với khí hậu khắc nghiệt, hạn hán đầu vụ Xuân và rét đậm cuối vụ Đông. Tại tỉnh Thái Nguyên, địa hình đồi núi chiếm 85,8% diện tích tự nhiên, đất nông nghiệp chỉ chiếm 12,4%, sản lượng ngô năm 2013 đạt 81,0 nghìn tấn với năng suất 42,6 tạ/ha. Việc chọn tạo và khảo nghiệm các giống ngô lai mới có năng suất cao, chống chịu tốt là giải pháp then chốt để thay thế giống cũ và giảm áp lực nhập khẩu.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là đánh giá toàn diện khả năng sinh trưởng, phát triển, đặc điểm hình thái sinh lý, khả năng chống chịu sâu bệnh, chống đổ và các yếu tố cấu thành năng suất của 8 tổ hợp ngô lai mới tạo so với giống đối chứng. Nghiên cứu được thực hiện tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên trong hai vụ canh tác liên tiếp gồm vụ Xuân 2014 và vụ Thu Đông 2014. Kết quả nghiên cứu xác định các tổ hợp lai ưu tú có tiềm năng năng suất đạt từ 65 đến 76 tạ/ha, bổ sung nguồn giống chất lượng cao cho cơ cấu cây trồng nông nghiệp tại Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết ưu thế lai (Heterosis) do Shull khởi xướng từ năm 1904 và được phát triển hoàn thiện qua các công trình của Edward Murray East. Thuyết ưu thế lai khẳng định việc lai phối giữa các dòng thuần tự phối qua 6 đến 8 thế hệ sẽ tạo ra đời con lai F1 mang sức sống vượt trội, nâng cao năng suất từ 20% đến 25% và tăng cường khả năng chống chịu so với dạng bố mẹ. Bên cạnh đó, mô hình đánh giá tương tác giữa kiểu gen và môi trường (Genotype x Environment Interaction - GxE) được áp dụng nhằm phân tích phản ứng thích nghi của các tổ hợp lai qua hai mùa vụ có đặc thù thời tiết đối lập.

Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm nông sinh học cốt lõi:

  1. Chỉ số diện tích lá (CSDTL): Thước đo diện tích bề mặt quang hợp trên một đơn vị diện tích đất, quyết định trực tiếp hiệu suất tích lũy chất khô của quần thể cây trồng;
  2. Tốc độ tăng trưởng sinh dưỡng và sinh thực: Tiến trình biến đổi chiều cao cây, chiều cao đóng bắp và tốc độ ra lá theo từng giai đoạn 10 ngày sau trồng;
  3. Khả năng chống chịu sinh học và phi sinh học: Mức độ kháng sâu đục thân, sâu cắn râu, bệnh gỉ sắt, bệnh thối thân cùng khả năng chống đổ rễ và gãy thân;
  4. Năng suất lý thuyết (NSLT) và Năng suất thực thu (NSTT): Chỉ tiêu phản ánh tổng hợp số bắp hữu hiệu, số hàng hạt, số hạt trên hàng và khối lượng 1000 hạt được quy đổi về độ ẩm tiêu chuẩn bảo quản 14%.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được thực hiện trên 9 công thức gồm 8 tổ hợp ngô lai đơn mới do Viện Nghiên cứu Ngô lai tạo (ký hiệu từ NL13-4 đến NL13-18) và 1 giống đối chứng NK4300 của Syngenta. Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Mỗi ô thí nghiệm có diện tích chuẩn 14 m2 (chiều dài 5,0 m x chiều rộng 2,8 m), trồng 4 hàng với mật độ 5,7 vạn cây/ha (khoảng cách 70 cm x 25 cm). Cỡ mẫu theo dõi gồm 10 cây cố định trên 2 hàng giữa của mỗi ô để đánh giá các chỉ tiêu động thái sinh trưởng, và 30 bắp ngẫu nhiên để xác định các yếu tố cấu thành năng suất. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng giúp loại bỏ sai số biên và phản ánh chính xác đặc tính nông học của từng công thức.

Quy trình khảo nghiệm tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-56:2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Nền phân bón áp dụng thống nhất gồm 10 tấn phân chuồng kết hợp 150 kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha (tương đương 326,1 kg urê, 545,1 kg supe lân và 150 kg kaliclorua/ha). Vụ Xuân gieo ngày 22/02/2014 và vụ Thu Đông gieo ngày 23/08/2014. Toàn bộ số liệu thu thập được tính toán giá trị trung bình trên Microsoft Excel và xử lý phân tích phương sai (ANOVA), kiểm định sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa LSD05 và hệ số biến động CV% bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTART phiên bản 5.0 nhằm đảm bảo độ tin cậy thống kê ở mức xác suất 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về thời gian sinh trưởng và hình thái cây: Thời gian sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai mới trong vụ Xuân dao động từ 110 đến 118 ngày, trong khi ở vụ Thu Đông được rút ngắn từ 12 đến 15 ngày, chỉ còn 95 đến 103 ngày do tích lũy nhiệt độ ban đầu cao hơn. Chiều cao cây đạt từ 190,5 cm đến 225,4 cm, chiều cao đóng bắp đạt 85,2 cm đến 105,6 cm. Tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây của các dòng lai duy trì ở mức lý tưởng 42% đến 48%, tạo thế cân đối giúp cây đứng vững trước gió lốc.

Thứ hai, về động thái ra lá và diện tích quang hợp: Tổng số lá trên cây đạt từ 18,2 đến 20,4 lá. Giai đoạn 20 đến 50 ngày sau trồng là thời kỳ tăng trưởng sinh khối mạnh nhất, tốc độ vươn cao đạt từ 3,5 đến 4,8 cm/ngày. Tại thời kỳ chín sữa, chỉ số diện tích lá (CSDTL) của các tổ hợp triển vọng đạt từ 4,12 đến 4,85 m2 lá/m2 đất, vượt đối chứng NK4300 (4,05 m2 lá/m2 đất) từ 6,2% đến 19,7%, đảm bảo nguồn quang hợp dồi dào để nuôi bắp.

Thứ ba, về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: Các tổ hợp NL13-14, NL13-15 và NL13-18 thể hiện ưu thế vượt trội với chiều dài bắp đạt 16,8 đến 18,2 cm, số hàng hạt từ 14,4 đến 16,2 hàng/bắp, số hạt trên hàng đạt 32,5 đến 38,4 hạt. Khối lượng 1000 hạt (ở ẩm độ 14%) đạt từ 295,4 đến 325,8 g. Năng suất thực thu vụ Xuân đạt từ 68,5 đến 76,4 tạ/ha, vụ Thu Đông đạt từ 62,8 đến 70,2 tạ/ha, cao hơn giống đối chứng NK4300 (58,5 đến 61,2 tạ/ha) từ 12,4% đến 24,8%.

Thứ tư, về tính chống chịu: Các tổ hợp lai sở hữu bộ rễ chân kiềng phát triển khỏe từ 2 đến 3 tầng với 14 đến 18 rễ bám sâu, đường kính gốc thân lớn, giúp tỷ lệ đổ rễ duy trì dưới 4,0% và tỷ lệ gãy thân dưới 3,5%. Khả năng chống chịu sâu bệnh rất tốt: tỷ lệ hại của sâu đục thân (Chilo partellus) chỉ ở mức điểm 1 đến 2 (dưới 8,5% số cây bị hại), tỷ lệ nhiễm bệnh gỉ sắt (Puccinia sp.) dưới 5,2% và bệnh thối thân (Fusarium spp.) dưới 2,1%.

Thảo luận kết quả

Năng suất vượt trội của các tổ hợp NL13-14 và NL13-15 bắt nguồn từ sự kết hợp hài hòa giữa bộ máy quang hợp hiệu suất cao và khả năng chuyển hóa chất khô về hạt. Cây duy trì từ 5 đến 7 lá xanh tại thời điểm thu hoạch, giúp hạt vào chắc đều và đạt tỷ lệ hạt trên bắp cao (78% đến 82%). Lá bi bao kín đầu bắp ở mức điểm 1 đến 2, ngăn ngừa nước mưa xâm nhập gây thối hạt khi gặp thời tiết ẩm ướt cuối vụ.

Mức năng suất 68,5 đến 76,4 tạ/ha của các tổ hợp lai mới tương đương với các dòng ngô lai triển vọng từng khảo nghiệm tại Thái Nguyên như NK6654 (74,4 tạ/ha) và VS36 (trên 80 tạ/ha), đồng thời cao hơn năng suất bình quân toàn tỉnh năm 2013 (42,6 tạ/ha) từ 60,8% đến 79,3%. Toàn bộ dữ liệu được hệ thống hóa qua 14 bảng số liệu chi tiết và 4 biểu đồ trực quan, mô tả rõ nét mối tương quan thuận giữa chỉ số diện tích lá với năng suất sinh vật học, cũng như tính ổn định của các tổ hợp lai qua 2 mùa vụ khác biệt.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tuyển chọn và mở rộng khảo nghiệm sản xuất: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên cùng Viện Nghiên cứu Ngô đưa ngay hai tổ hợp lai ưu tú nhất là NL13-14 và NL13-15 vào mạng lưới khảo nghiệm diện rộng (VCU và DUS) trên quy mô 50 đến 100 ha tại các vùng sinh thái đặc trưng như Võ Nhai, Định Hóa, Phú Lương trong giai đoạn 2015 - 2017, nhằm đạt mục tiêu năng suất thương phẩm 70 đến 75 tạ/ha.
  2. Ban hành quy trình kỹ thuật canh tác thâm canh: Trung tâm Khuyến nông tỉnh xây dựng và chuyển giao gói kỹ thuật chuẩn hóa với mật độ gieo trồng 5,7 vạn cây/ha, bón phân cân đối 150N + 90P2O5 + 90K2O kết hợp 10 tấn phân hữu cơ vi sinh, hoàn thành trong vòng 6 đến 12 tháng tới để giảm 10% đến 15% chi phí phân bón vô cơ và tăng tỷ lệ bắp loại một lên trên 90%.
  3. Chuyển giao công nghệ sản xuất hạt lai F1 tại chỗ: Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo các hợp tác xã nông nghiệp liên kết với đơn vị chọn tạo giống tiếp nhận công nghệ sản xuất hạt giống F1 trong giai đoạn 2016 - 2018, giúp hạ giá thành hạt giống từ 20% đến 30% so với hạt giống nhập khẩu, tiết kiệm nguồn vốn đầu tư ban đầu cho nông dân.
  4. Mở rộng diện tích ngô vụ Thu Đông trên đất hai vụ lúa: Các phòng Nông nghiệp địa phương quy hoạch tăng diện tích trồng ngô vụ Đông lên 20.000 ha vào năm 2020, tận dụng thời gian sinh trưởng ngắn 95 đến 103 ngày của các tổ hợp mới để né tránh rét đậm cuối vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất từ 1,8 lên 2,3 lần/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà khoa học và chuyên gia chọn tạo giống cây trồng: Cung cấp nguồn cứ liệu thực nghiệm chuẩn xác về quy trình đánh giá tổ hợp lai đơn, phương pháp theo dõi chỉ số sinh lý lá, động thái sinh trưởng và kỹ thuật phân tích biến sai sinh học bằng phần mềm IRRISTART 5.0.
  2. Cơ quan quản lý nông nghiệp và cán bộ khuyến nông: Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để hoạch định cơ cấu mùa vụ, lựa chọn bộ giống ngô chịu hạn, chống đổ phục vụ đề án tái cơ cấu ngành trồng trọt cho 19.000 ha đất ngô tại Thái Nguyên và khu vực Trung du miền núi phía Bắc.
  3. Các doanh nghiệp và hợp tác xã sản xuất kinh doanh hạt giống: Làm căn cứ thương mại hóa bản quyền các tổ hợp lai có năng suất cao từ 68 đến 76 tạ/ha, xây dựng vùng sản xuất ngô nguyên liệu đáp ứng nhu cầu thức ăn chăn nuôi đang tăng trưởng 7,8%/năm của Việt Nam.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Nông học, Khoa học cây trồng: Nguồn tài liệu học thuật giá trị với 60 trích dẫn nghiên cứu chuyên ngành trong và ngoài nước, phương pháp bố trí thí nghiệm chuẩn mực theo QCVN 01-56:2011/BNNPTNT phục vụ giảng dạy và nghiên cứu thực nghiệm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao luận văn lựa chọn giống NK4300 làm đối chứng trong thí nghiệm? Giống NK4300 của Syngenta là giống ngô lai đơn nhập nội rất phổ biến tại các tỉnh miền núi phía Bắc với thời gian sinh trưởng 90 đến 110 ngày, năng suất ổn định 50 đến 60 tạ/ha và tính chống chịu khá. Việc sử dụng NK4300 làm đối chứng giúp đánh giá chính xác ưu thế vượt trội về năng suất (đạt 68,5 đến 76,4 tạ/ha) và mức độ thích nghi của 8 tổ hợp lai mới trong cùng một điều kiện canh tác.

  2. Thời gian sinh trưởng giữa vụ Xuân và vụ Thu Đông 2014 có sự chênh lệch như thế nào? Vụ Xuân 2014 có thời gian sinh trưởng từ 110 đến 118 ngày do nhiệt độ đầu vụ thấp (khoảng 15,2 °C vào tháng 1) khiến quá trình nảy mầm và sinh trưởng cây non kéo dài. Ngược lại, vụ Thu Đông chỉ kéo dài 95 đến 103 ngày (rút ngắn 12 đến 15 ngày) nhờ giai đoạn đầu vụ có nhiệt độ ấm áp (25 đến 28 °C), giúp ngô tăng tốc độ ra lá và sớm trỗ cờ.

  3. Những chỉ tiêu nào quyết định khả năng chống đổ xuất sắc của các tổ hợp lai mới? Khả năng chống đổ được quyết định bởi 4 chỉ tiêu: tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây ở mức cân đối 42% đến 48%, đường kính gốc thân lớn, hệ rễ chân kiềng khỏe gồm 2 đến 3 tầng với 14 đến 18 rễ bám đất vững chắc, và tỷ lệ đổ rễ, gãy thân thực tế duy trì dưới 4,0% sau các đợt mưa dông lớn.

  4. Năng suất thực thu của các tổ hợp ngô lai được xác định bằng phương pháp nào? Năng suất thực thu được tính toán từ khối lượng bắp tươi thu hoạch trên diện tích ô 14 m2, nhân với tỷ lệ hạt trên bắp (đạt 78% đến 82%) và hiệu chỉnh chính xác về độ ẩm tiêu chuẩn bảo quản 14% thông qua máy đo độ ẩm điện tử Kett 400 Nhật Bản, đảm bảo loại trừ hoàn toàn sai số ẩm độ giữa các công thức.

  5. Việc phát triển các giống ngô lai nội địa mang lại lợi ích kinh tế gì cho Việt Nam? Năm 2014, Việt Nam phải nhập khẩu tới 4,79 triệu tấn ngô trị giá 1,22 tỷ USD phục vụ chế biến thức ăn chăn nuôi. Việc tự chủ các tổ hợp lai nội địa có năng suất 68 đến 76 tạ/ha giúp giảm giá giống 20% đến 30% so với giống ngoại, tăng thêm lợi nhuận từ 1,0 đến 1,3 triệu đồng/sào cho nông dân và chủ động nguồn nguyên liệu quốc gia.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện 8 tổ hợp ngô lai mới qua hai vụ Xuân và Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên, xác định thành công các tổ hợp ưu tú NL13-14 và NL13-15 đạt năng suất thực thu cao từ 68,5 đến 76,4 tạ/ha, vượt giống đối chứng từ 12,4% đến 24,8%.
  • Các tổ hợp lai triển vọng có thời gian sinh trưởng trung ngày (95 đến 118 ngày), tỷ lệ đóng bắp cân đối (42% đến 48%), chỉ số diện tích lá tối ưu (4,12 đến 4,85 m2 lá/m2 đất) và khả năng chống chịu sâu bệnh vượt trội (sâu đục thân dưới 8,5%, bệnh gỉ sắt dưới 5,2%).
  • Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực về đặc tính nông sinh học và tương tác sinh thái tại Thái Nguyên, đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác chọn tạo giống ngô thích ứng biến đổi khí hậu.
  • Lộ trình tiếp theo giai đoạn 2016 - 2020 cần tập trung khảo nghiệm sản xuất quy mô 100 ha tại các huyện vùng cao và hoàn thiện quy trình canh tác thâm canh để sớm công nhận giống ngô quốc gia.
  • Các đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương hãy tăng cường liên kết chuyển giao, nhanh chóng đưa các tổ hợp ngô lai mới vào sản xuất đại trà nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân.