Luận văn thạc sĩ đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại thái nguyên, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

139
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khả năng sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai mới

Nghiên cứu tập trung vào khả năng sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai mới tại Thái Nguyên. Các tổ hợp lai được đánh giá qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển trong điều kiện vụ Xuân và Thu đông 2014. Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể về tốc độ tăng trưởng chiều cao cây và số lá giữa các tổ hợp. Các chỉ số sinh lý như chỉ số diện tích lá cũng được theo dõi để đánh giá tiềm năng năng suất.

1.1. Giai đoạn sinh trưởng và phát triển

Các tổ hợp ngô lai được theo dõi qua các giai đoạn từ gieo hạt đến thu hoạch. Kết quả cho thấy các tổ hợp có thời gian sinh trưởng ngắn hơn thường thích nghi tốt hơn với điều kiện khí hậu tại Thái Nguyên. Các giai đoạn như ra hoa, đóng bắp được ghi nhận chi tiết để đánh giá sự đồng đều và ổn định của các tổ hợp.

1.2. Đặc điểm hình thái và sinh lý

Các đặc điểm hình thái như chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá và chỉ số diện tích lá được đo đạc. Các tổ hợp có chiều cao cây trung bình và số lá nhiều thường cho năng suất cao hơn. Chỉ số diện tích lá cao cũng là yếu tố quan trọng giúp cây quang hợp hiệu quả, từ đó tăng năng suất ngô.

II. Đánh giá năng suất và yếu tố cấu thành

Nghiên cứu đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất ngô như số hạt trên bắp, khối lượng 1000 hạt và độ bao bắp. Các tổ hợp lai có số hạt trên bắp cao và khối lượng hạt lớn thường cho năng suất thực thu cao hơn. Kết quả cũng chỉ ra sự tương quan giữa các yếu tố này với khả năng sinh trưởng của cây.

2.1. Yếu tố cấu thành năng suất

Các yếu tố như số hàng trên bắp, số hạt trên hàng và khối lượng hạt được đo đạc. Các tổ hợp có số hàng trên bắp từ 14-16 và số hạt trên hàng từ 30-35 thường cho năng suất cao. Khối lượng 1000 hạt cũng là yếu tố quan trọng, với các tổ hợp có khối lượng hạt từ 280-320g thường cho năng suất ổn định.

2.2. Năng suất thực thu

Năng suất thực thu được tính toán dựa trên các yếu tố cấu thành. Các tổ hợp có năng suất lý thuyết cao thường đạt năng suất thực thu từ 7-9 tấn/ha. Kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng các tổ hợp lai mới vào sản xuất tại Thái Nguyên.

III. Khả năng chống chịu của các tổ hợp ngô lai

Nghiên cứu đánh giá khả năng chống chịu của các tổ hợp ngô lai với sâu bệnh và điều kiện bất lợi như đổ ngã. Các tổ hợp có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt thường có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp hơn 10%. Khả năng chống đổ cũng được đánh giá qua số rễ chân kiềng và đường kính gốc, với các tổ hợp có đường kính gốc lớn hơn 3cm thường ít bị đổ ngã.

3.1. Chống chịu sâu bệnh

Các tổ hợp được đánh giá khả năng chống chịu với các loại sâu bệnh phổ biến như sâu đục thân, rầy nâu và bệnh khô vằn. Các tổ hợp có tỷ lệ nhiễm bệnh dưới 10% được xem là có khả năng chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện sản xuất tại Thái Nguyên.

3.2. Chống đổ ngã

Khả năng chống đổ được đánh giá qua số rễ chân kiềng và đường kính gốc. Các tổ hợp có số rễ chân kiềng từ 8-10 và đường kính gốc lớn hơn 3cm thường ít bị đổ ngã, đặc biệt trong điều kiện gió mạnh hoặc mưa lớn.

IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu về khả năng sinh trưởngnăng suất ngô của các tổ hợp ngô lai mới. Kết quả nghiên cứu cũng có giá trị thực tiễn cao, giúp lựa chọn các giống ngô phù hợp với điều kiện sinh thái tại Thái Nguyên, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

4.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu cung cấp dữ liệu chi tiết về các đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng chống chịu của các tổ hợp ngô lai. Đây là cơ sở quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về cải thiện giống ngô, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp lựa chọn các giống ngô có năng suất caokhả năng chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện sản xuất tại Thái Nguyên. Điều này góp phần tăng hiệu quả kinh tế cho người nông dân và phát triển bền vững ngành nông nghiệp.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Sản xuất ngô của Việt Nam đang đứng trước thách thức vô cùng lớn, nhu cầu sử dụng tăng, trong khi đó điều kiện tự nhiên khí hậu biến đổi phức tạp bất thuận cho quá trình phát triển của cây ngô. Vì vậy, sản xuất ngô muốn phát triển cần phải có các biện pháp hữu hiệu như chọn tạo các giống ngô mới năng suất cao, chống chịu tốt hơn. Đặc biệt là ở các tỉnh miền núi có diện tích ngô rất lớn nhưng điều kiện tự nhiên khí hậu khắc nghiệt do đó các giống năng suất cao, chịu hạn, chịu rét tốt đang là sự lựa chọn tốt nhất ở đây.

Hiện nay, lĩnh vực nghiên cứu chọn tạo giống ngô ở Việt Nam khá thành công đã tạo ra nhiều giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với các vùng sinh thái. Các giống ngô lai của Việt Nam có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận tốt hơn và giá thành rẻ hơn so với các giống được sản xuất bởi các công ty nước ngoài. Trong quá trình chọn tạo giống, đánh giá tổ hợp lai là giai đoạn rất quan trọng loại bỏ được các tổ hợp lai có những yếu điểm về các đặc tính nông sinh học như: Thời gian sinh trưởng quá dài, cây quá cao, chống đổ kém và dễ nhiễm sâu bệnh … Các tổ hợp lai ưu tú sẽ được công nhận là giống phục vụ cho sản xuất. Tuy nhiên, để chọn được các tổ hợp lai tốt làm giống phải tiến hành đánh giá ở nhiều vụ, nhiều vùng sinh thái khác nhau.

Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ở các trung tâm nông nghiệp sơ khai, bản địa, các bộ lạc cổ xưa của nhân loại đã thuần hóa được rất nhiều loại cây cốc. Nhiều cây cổ này không vượt ra ngoài giới hạn định cư của những dân tộc trồng chúng lần đầu tiên, chỉ có ba cây cốc là lúa mì, lúa nước và ngô trở thành cây trồng phân bố trên toàn thế giới. 6 Ngày nay, ngô đã trở thành cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.

So với lúa mì, lúa gạo ngô đứng thứ hai về diện tích nhưng dẫn đầu về năng suất, sản lượng. Năm 2013, sản lượng ngô nhiều hơn 313,5 triệu tấn so với lúa mì và 271,0 triệu tấn so với lúa gạo (FAO, 2015)[50].1: Tình hình sản xuất ngô, lúa mì, lúa nước trên thế giới năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Loại cây (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Lúa mì 218,5 32,6 713,2 Lúa gạo 164,7 45,3 745,7 Ngô 184,2 55,2 1016,7 Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2015[50] Nhờ ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống, cải tiến kỹ thuật canh tác và ứng dụng những thành tựu của công nghệ sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản, cơ khí hoá, công nghệ tin học,…nên sản xuất ngô trên thế giới phát triển liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Số liệu bảng 1.2 cho thấy trong vòng 13 năm, tốc độ tăng trưởng về diện tích trồng ngô trên thế giới là 2,6%/năm, về năng suất là 1,8%/năm và sản lượng là 5,0%/năm.2: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2001-2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2001 137,49 44,77 615,48 2002 137,29 44,06 604,92 2003 144,67 44,60 645,23 2004 147,47 49,48 729,21 2005 147,53 48,37 713,62 2006 148,96 48,09 706,84 2007 158,31 49,90 789,93 2008 162,87 50,98 830,26 2009 158,84 51,63 820,15 2010 163,82 51,87 849,79 2011 171,78 51,55 885,29 2012 177,00 49,44 875,10 2013 184,20 55,2 1016,7 Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2015[50] 7 Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2011-2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ /ha) (triệu tấn) 2011 2012 2013 2011 2012 2013 2011 2012 2013 Châu Á 56,5 57,6 59,4 48,1 50,2 51,2 271,8 288,8 304,3 Châu Âu 16,6 18,3 19,0 66,6 51,7 61,9 110,5 94,7 117,5 Châu Mĩ 64,1 67,7 70,7 68,4 61,8 73,9 438,5 418,2 522,6 Châu Phi 34,7 33,7 35,0 19,2 20,7 20,5 66,7 51,7 71,6 Châu Đại 0,86 0,94 1,02 68,1 71,9 70,8 0,58 0,68 0,73 Dương Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2015[50] Được hình thành và phát triển từ vùng nhiệt đới nhưng ngày nay cây ngô đã xâm nhập cả những nơi thuộc vùng ôn đới. Tuy nhiên do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, khí hậu và kỹ thuật canh tác nên sản xuất ngô có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng, các châu lục.

Châu Mỹ và Châu Á, là vùng có khí hậu nhiệt đới nên thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, phát triển của cây ngô nên diện tích không ngừng được mở rộng. Năm 2013, diện tích trồng ngô của hai châu lục này là 130,1 triệu ha, chiếm 70,6% diện tích trồng ngô của toàn thế giới. Châu Mỹ và châu Âu là hai vùng tập trung chủ yếu là các nước phát triển nên có trình độ khoa học kỹ thuật cao, có khả năng đầu tư thâm canh nên năng suất ngô cao nhất trên thế giới, năm 2013 năng suất của châu Mỹ đạt 73,9 tạ/ha, châu Âu đạt 61,8 tạ/ha, trong khi đó năng suất của châu Phi chỉ đạt 20,5 tạ/ha. Châu Đại Dương năng suất ngô rất cao đạt 70,8 tạ/ha nhưng trên diện tích nhỏ không đáng kể (0,86 triệu ha) (FAO, 2015)[50].

Do diện trồng lớn và năng suất cao nên châu Mỹ có sản lượng ngô cao nhất thế giới, năm 2013 sản lượng đạt 522,6 triệu tấn, chiếm 51,4% tổng sản lượng ngô toàn thế giới. 8 Châu Á là khu vực có diện tích ngô lớn thứ hai sau châu Mỹ với 59,4 triệu ha (ít hơn Châu Mỹ 11,3 triệu ha), nhưng năng suất ngô ở khu vực này thấp hơn châu Mỹ chỉ đạt 51,2 tạ/ha, do đó sản lượng ngô của châu Á chỉ bằng 58,2% sản lượng ngô của Châu Mỹ.4: Tình hình sản xuất ngô của một số nước năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 35,5 99,7 353,7 Trung Quốc 35,3 61,8 217,7 Brazil 15,3 52,6 80,5 Mexicô 7,1 31,9 22,7 Peru 0,5 32,7 1,7 Israel 0,04 225,6 0,11 Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2015[50] Trên thế giới, Mexico và Peru là hai trung tâm phát sinh đa dạng di truyền của cây ngô nhưng ngày nay nhiều vùng ngô di cư đến đã có tốc độ phát triển vượt rất xa trung tâm khởi nguyên ban đầu của nó. Số liệu thống kê của FAO (2015) cho thấy năm 2013, diện tích trồng ngô của hai trung tâm này mới chỉ đạt 0,5-7,1 triệu ha, năng suất đạt 31,9-32,7 tạ/ha. Trong khi đó diện tích trồng ngô của Mỹ là 35,5 triệu ha, năng suất bình quân đạt 99,7 tạ/ha và sản lượng đạt 353,7 triệu tấn chiếm 34,8% tổng sản lượng ngô toàn thế giới.

Ở Mỹ sản xuất ngô phát triển rất mạnh tạo thành vành đai ngô rộng lớn cung cấp nguồn gen cho toàn thế giới (Rinke. Sản xuất ngô ở Mỹ phát triển mạnh là do thành công trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, từ những năm 1990, 100% diện tích trồng ngô của Mỹ đã sử dụng các giống ngô lai trong đó hơn 90% là giống ngô lai đơn. So với năm 2009, năm 2012 năng suất ngô của Mỹ giảm 25,94 tạ/ha, do gặp nhiều bất thuận trong quá trình sản xuất, đặc biệt là hạn hán. Sự biến đổi của khí 9 hậu đã tác động không nhỏ đến sản xuất ngô của Mỹ cũng như các nước trên toàn cầu.

Vì vậy, đòi hỏi các nhà khoa học nghiên cứu các biện pháp cải tạo giống có khả năng chống chịu tốt để thích ứng với điều kiện sinh thái biến đổi. Năm 2013, giống ngô chuyển gen chịu hạn DroughtGardTM, lần đầu tiên được trồng ở Hoa Kỳ với diện tích 50.000 ha nhưng đến năm 2014 đã tăng đáng kể đạt 275.000 ha, điều đó phản ánh trình độ khoa học kỹ thuật trong sản xuất ngô và sự tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật của nông dân Mỹ (Cục bảo tồn đa dạng sinh học, 2015) [9]. Trên thế giới, Mỹ là nước đứng đầu khi áp dụng công nghệ sinh học để cải thiện năng suất cũng như khả năng chống chịu của giống ngô. Minh Tang Chang và Peter (2005) [56] cho biết: Ở Mỹ chỉ còn 48% giống ngô được sử dụng được chọn tạo theo công nghệ truyền thống, 52% là bằng công nghệ sinh học.

Năm 2007, diện tích trồng ngô chuyển gen ở Mỹ đạt 27,4 triệu ha chiếm 73% tổng diện tích ngô (Phan Xuân Hào, 2008)[22], nhưng đến năm 2014, tỷ lệ ngô biến đổi gen được áp dụng ở Mỹ là 93% (Cục bảo tồn đa dạng sinh học, 2015) [9]. Trung Quốc là nước đứng đầu trong sản xuất ngô ở châu Á, với diện tích trồng ngô năm 2013 là 35,3 triệu ha chỉ ít hơn 0,2 triệu ha so với Mỹ. Mặc dù diện tích ngô của Trung Quốc gần tương đương diện tích ngô của Mỹ nhưng do năng suất ngô của Trung Quốc thấp hơn nhiều so với Mỹ (năm 2013 năng suất ngô của Trung Quốc đạt 61,8 tạ/ha tạ/ha, bằng 62,0% năng suất ngô của Mỹ) nên sản lượng ngô của Trung Quốc chỉ bằng 61,5% sản lượng ngô của Mỹ. Các nước trên thế giới có năng suất ngô cao nhất là Saint Vincent, Grenadines (248,6 tạ/ha), Israel (225,6 tạ/ha), Jordan (201,0 tạ/ha), Kuwait (200,0 tạ/ha), Ả Rập (200,0 tạ/ha), Tajikistan (150,8 tạ/ha) (FAO, 2015)[50].

Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở nước ta ngô là cây trồng nhập nội được đưa vào Việt Nam khoảng trên 300 năm. Sau khi du nhập vào Việt Nam cây ngô đã nhanh chóng gắn bó 10 với người dân, đặc biệt là đồng bào miền núi, nơi có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Cây ngô rất dễ trồng lại có khả năng thích nghi cao, chỉ cần có đủ nước trời và ẩm độ phù hợp là có thể phát triển và cho năng suất. Với những đặc điểm sinh thái đó, cây ngô luôn được bà con dân tộc thiểu số lựa chọn làm cây trồng chủ lực.

Tuy nhiên, việc phát triển cây ngô trong giai đoạn đầu ở Việt Nam mang tính tự phát, người dân chỉ trồng ngô theo thói quen và trồng đủ để dùng cho nhu cầu cuộc sống. Với diện tích manh mún, quảng canh, chưa tác động của khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên năng suất thấp, cây ngô không được chú trọng nên chưa phát huy được tiềm năng của nó, giai đoạn 1960 – 1980 năng suất chỉ đạt 10 - 11 tạ/ha. Sản xuất ngô ở nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt, từ những năm 1990 đến nay do ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống, diện tích trồng ngô lai không ngừng được mở rộng, đồng thời các biện pháp kỹ thuật canh tác cũng được cải thiện phù hợp với yêu cầu của giống mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh Giá Khả Năng Sinh Trưởng Của Các Tổ Hợp Ngô Lai Mới Tại Thái Nguyên là một nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả sinh trưởng của các giống ngô lai mới trong điều kiện canh tác tại Thái Nguyên. Tài liệu này cung cấp những thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây ngô, từ đó giúp nông dân và nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện để lựa chọn giống phù hợp, tối ưu hóa năng suất. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp và cải thiện chất lượng cây trồng.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học cây trồng khảo sát khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của 6 tổ hợp lai bắp ngọt zea mays var saccharata triển vọng tại vùng đông nam bộ, nghiên cứu này tập trung vào các giống bắp ngọt và hiệu quả canh tác tại vùng Đông Nam Bộ. Ngoài ra, Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón khác nhau đến sinh trưởng và phát triển của giống bưởi da xanh tại Thái Nguyên cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của phân bón đến cây trồng. Cuối cùng, Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống quýt ngọt không hạt citrus unshiu marc tại Thái Nguyên sẽ mang đến góc nhìn chi tiết về việc sử dụng phân bón hiệu quả trong canh tác cây ăn quả. Hãy khám phá thêm để nâng cao hiểu biết của bạn!