Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm của giống ngô thu sinh khối Ngô sinh khối là cây ngô được thu hoạch ở giai đoạn bắp ngô chín sáp đề làm thức ăn cho gia súc ăn cỏ. Thay vì thu hoạch dé lay hạt lúc bắp ngô đã chín hoàn toàn, cây ngô thu hoạch làm thức ăn cho gia súc ở giai đoạn bắp ngô chín sáp sẽ đảm bảo độ mềm, giàu dinh dưỡng và sự ngon miệng cho vật nuôi (Báo nông nghiệp Việt Nam, 2020). Toàn bộ cây ngô (thân, lá, bắp) thường được băm/xay nhỏ dé cho gia súc ăn trực tiếp, hoặc chế biến sâu hơn thành các thức ăn cho gia súc như ủ chua, viên nén hoản chỉnh cho gia súc ăn cỏ. Một trong những yêu cầu quan trọng của các giống ngô thu sinh khối tốt cần cho năng suất sinh khối cao, bộ lá bó đứng dé chịu được mật độ dày, bộ rễ chân kiéng chắc khỏe, có khả năng chống chịu tốt, cây to khỏe, chống đồ tốt, sạch bệnh, bộ lá xanh bền và có hàm lượng chất khô cao (Đào Ngọc Ánh, 2023).
Ngoài ra còn có khá nhiều đặc điểm khác biệt giữa ngô làm thức ăn xanh so với ngô sản xuất lấy hạt truyền thống: Bảng 1.1 Một số đặc điểm khác biệt giữa ngô làm thức ăn xanh và ngô sản xuất lấy hạt Bộ phận Ngô làm thức ăn xanh Ngô sản xuất lay hat Thân cây Cao, mềm, vỏ thân mỏng Thấp hon,than chắc, vỏ thân dày, cứng Lá Nhiều lá phía trên bắp, lá rộng Ít lá phía trên bắp, lá gon tổ Đóng bắp thấp, nhiều bắp khi Đóng cao hơn, không có hiện tượng đa ap x. , " 2 sẽ trông ở mật độ vừa phải bap ở mật độ vừa phải Hạt mềm để tối ưu hoá khả " : Hat cứng dé dé sơ chê và bảo quản lâu Hạt năng tiêu hoá trong hệ tiêu hoá / ; dai trong kho sau thu hoach cua gia súc Gan lá Gan gitra la mau nau Không quan tam (Pordesimo.2004) Như vay, giống ngô lai dùng đề thu sinh khối trong chăn nuôi có những đặc điểm khác so với giống lấy hạt truyền thống. Đây chính là lý do mà công ty kinh doanh hạt giống ngô lớn nhất thé giới Pioneer tô chức chuyên cung cấp các loại giống ngô lai theo chuyên hạt hay chuyên cho sinh khối và khuyến cáo nên sử dụng các loại giống chuyên biệt này theo mục đích phù hợp (Ridsdale, S. Pioneer đã tập hợp các giống ngô lai sản pham của mình theo nhóm cho sản xuất hạt, nhóm cho sản xuất sinh khối và khuyến cáo từng giống riêng theo vùng sinh thái khác biệt qua đó gợi ý nông dân trồng từng giống cụ thể.2 Giá trị dinh dưỡng của ngô sinh khối Một nghiên cứu của Bộ môn Cây thức ăn chăn nuôi (Viện Nghiên cứu Ngô) phối hợp với Công ty TNHH Hạt giống Việt (VietSeed) thực hiện cho thấy, ngô (sinh khối, thu hoạch giai đoạn chín sáp) là thức ăn thô xanh đứng thứ 2 về hàm lượng dinh dưỡng trong số các nhóm cỏ được nghiên cứu (chỉ đứng sau nhóm cỏ Slyto, Centro, Alfalfa, đậu tương).
Đặc biệt, ngô sinh khối có hàm lượng vật chất khô rất cao (giao động xoay quanh 28-35%), đứng đầu trong số các loại cỏ dành cho thức ăn chăn nuôi. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy các chỉ số như ADF (Acid Detergent Fiber - chất xơ không hoà tan trong acid); chỉ số NDF (Neutral Detergent Fiber - chat xơ không tan trong dung dịch trung tính); hàm lượng Protein thô. của ngô sinh khối đều ở mức phù hợp đối với thức ăn thô dành cho gia súc ăn cỏ (ADF của ngô sinh khối khoảng 25%; NDF khoảng 43% va Protein thô khoảng trên 8%).2 Thanh phan dinh dưỡng trong thân, lá và lõi ngô lai Thành phân dinh dưỡng Đơn vị Cây xanh không bắp Lõi ngô Nước % Liga 10,2 Protit % 1,30 2,40 Lipit % 0,40 0,50 Duong, bột % 1,39 54,5 Xenlulo % 6,00 30,1 Khoáng chat % 1,40 1,40 (Đường Hong Dat, 2004) Ngô cũng được đánh giá là có nhiêu ưu diém so với các loại co khác như nang suất khá cao (từ 45-50 tân/ha/lứa), có thé trồng bằng hạt trên diện tích lớn, chi phí trồng trung bình, dinh dưỡng tốt, rat dé tiêu, ngon miệng. Ngô là loại cây lương thực có tỷ lệ tinh bột, protein, lipit trong hạt cũng như trong thân, lá tương đối cao (Bảng 1.2) và được đánh giá là nguồn thức ăn chăn nuôi chất lượng cao.
So với các loại cỏ làm thức ăn trong chăn nuôi thì hàm lượng các chất dinh dưỡng tương đương nhau, trong đó hàm lượng protein trong cây ngô sinh khối cao hơn han (Bảng 1.3 Thành phần dinh dưỡng của cây ngô tươi so với cỏ voi và cỏ stylo Đơn vị Cỏ voi 60 ngày Chỉ tiêu , Cây ngô tươi Cỏ stylo tính tuôi (mùa khô) Vật chất khô % 20,0 15,9 12,9 Protein % 1,76 1,99 1,78 Lipid % 0,51 0,47 0,39 Khoáng tổng số % 1,58 0,97 0,69 Xo tong số % 6,93 6,55 6,21 (Nguyễn Xuân Trach, 2012) Giá trị dinh dưỡng của cây ngô thu sinh khối phụ thuộc nhiều vào thời gian thu hoạch cây, được thể hiện rõ ở Bảng 1.4 Giá trị dinh dưỡng toàn thân cây ngô trong các giai đoạn khác nhau : Protein thô Lipit Dan xuat Thoi diém thu hoach VCK UFL (%) (%) không đạm(2) Giai đoạn 9 — 10 lá 15,3 1,78 31,2 0,35 47,8 Giai đoạn chin sữa 22,5 1,99 31,5 0,47 48,4 Giai doan sau thu hoach 31,1 1,32 23,9 0,42 49,3 (không bap) (Pozy va cong su, 1998) Trông ngô sinh khôi phục vu chê biên thức ăn chăn nuôi làm thức ăn cho gia súc có thể thu hoạch nhiều đợt ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau: Khi cây được 9 — 10 lá, xoắn ngọn, trổ cỜ, ra bắp bao tử, chín sữa. Tuy nhiên, việc thu hoạch cây ngô xanh làm thức ăn tươi cho gia súc vào giai đoạn chín sữa là lý tưởng nhất (Nguyễn Xuân Trạch, 2012), bởi các lý do: (i) Giai đoạn này, cây ngô cho khối lượng sinh khối cực dai, (ii) cây ngô vẫn còn mềm, giòn, có vị đậm, mùi thơm đặc trưng của ngô, (iii) Cây ngô đã tích luỹ day đủ dinh dưỡng trong thân, lá và bắp ngô, hàm lượng protein thô và lipid đạt cao nhất, và (1v) chỉ số đơn vị tạo sữa (UFL) trong cây lúc này đạt cao nhất.3 Tình hình sản xuất ngô thu sinh khối trên thế giới và trong nước 1.1 Tình hình sản xuất ngô thu sinh khối trên thế giới Theo số liệu của FAO (2023) cho thay (Bang 1.5) diện tích gieo trồng cây ngô sinh khối trên thé giới dao động 194 - 206 triệu ha và năng suất dao động 57 - 59 tan/tuoi/ha. Ở châu Á và Đông Nam Á, diện tích gieo trồng và năng suất đều có xu hướng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Ở châu Á, diện tích trồng ngô sinh khối chiếm khoảng 32 - 35% diện tích của thế giới, trong khi năng suất thấp hon, chỉ bang 92 - 96% năng suất bình quân của thé giới.
Ở Đông Nam Á, diện tích trồng ngô sinh khối chỉ chiếm 13-17% diện tích ngô châu Á và năng suất bang 81 - 87% năng suất trung bình của châu A và 79 - 81% năng suất ngô thé giới. Điều này cho thấy, châu Á nói chung, Đông Nam Á chưa chú trọng phát triển cây ngô sinh khối làm thức ăn cho gia súc nhai lại (Nguồn: FAOSTAT, 2023). Tại NewZealand, ngô ủ chua đóng vai trò rất quan trọng trong ngành chăn nuôi. Năm 2008, diện tích ngô lấy sinh khối là 80.000 ha trong khi ngô lấy hạt chỉ đạt 20.
Kết quả khảo sát của trung tâm Nghiên cứu cơ hội phát triển của New Zealand cho biết, năng suất ngô ủ chua trung bình ở New Zealand năm 2017 đạt 53 — 55 tan/ha, tổng lượng ngô ước tính 975. Theo William va cs (2007), dé tồn tại và phát triển ngành sữa ở New Zealand, hệ thống trang trại nước này phải đủ sức cạnh tranh và cây ngô sinh khối phải cần được chú ý đặc biệt. Điều này có thể đúng với nhiều nước khác khi chăn nuôi bò sữa được coi trọng như là ngành kinh tế quan trọng. Cây ngô sản xuất theo hướng năng suất sinh khối cao ngoài mục đích làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc còn có thể dùng nguyên liệu sản xuât nhiên liệu sinh học.
Năm 2010, diện tích trồng ngô thu sinh khối ở Mỹ chiếm khoảng 7% tổng diện tích trồng ngô của cả nước, nhiều nhất ở bang Wisconsin (Natalia de Leon, 2011). Ở Wisconsin có một sô nghiên cứu khá sâu về tao giông ngô cho năng suât sinh khôi cho 7 cả thức ăn chăn nuôi và sản xuất săng sinh học, đặc biệt là sau hiệu lực của sắc lệnh Act 2007 (Energy Independence and Security Act of 2007) về bao đảm an ninh năng lượng quốc gia của chính phủ Mỹ, trong đó nhấn mạnh năng lượng sinh học sẽ là nguồn năng lượng ngày càng quan trọng. Ngoài chất lượng thức ăn chăn nuôi thì khả năng thu hồi ethanol rất được chú ý. Theo kết quả khảo sát của Đại học Wisconsin, nang suất ethanol từ thân lá khá cao, trong đó có 6% ethanol thu được từ cờ, 13% thu được từ cùi ngô, 10% từ cuống và vỏ ngô, 6% từ gân lá, 12% từ bẹ lá và 46% từ thân cây (Natalia de Leon, 2011).
Các nghiên cứu của đại học Wisconsin về ngô sinh khối được thực hiện rất quy mô và đầy đủ về giống, nông học, chất lượng thức ăn chăn nuôi, khả năng tiêu hóa, năng suất sữa, năng suât ethanol. Ấn Độ là nước đứng đầu sản lượng sữa trên thế giới và số lượng bò sữa cũng lớn nhất (Sản xuất ngô sinh khối bền vững cải thiện năng suất chăn nuôi tại Án Độ (2016). Hiện nay, toàn An Độ mới trồng diện tích ngô sinh khối là 0,06 triệu ha, sản lượng 2,27 triệu tan và năng suất đạt 40-41 tan/ha (Kalra, 2018).2 Tình hình sản xuất ngô sinh khối ở Việt Nam Ở nước ta, ngô là cây lương thực, thực phâm quan trọng, là cây nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, ngô còn là cây nguyên liệu đề sản xuất Ethanol — xăng sinh học E5 sạch với môi trường, cây năng lượng của thế kỷ 21. Vì vậy, ngô đã và đang được trồng ở hầu khắp các vùng sinh thái nông nghiệp của cả nước.
Mặc dù vậy, cây ngô ở Việt Nam có những bước phát triển thăng trầm, những năm gần đây nhờ có nhiều chính sách phù hợp của Đảng và Chính phủ, nhất là áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về giống, biện pháp kỹ thuật canh tác và liên kết sản xuất giữa trồng trọt, chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa nên cây ngô đã có bước tiến đài trong tăng trưởng về diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế.