Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trưởng và năng suất sinh khối của giống ngô mn2 trên đất nâu đỏ tỉnh đồng nai

Khóa luận phân tích ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trưởng và năng suất sinh khối giống ngô MN2 trên đất nâu đỏ Đồng Nai.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Nông Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2024

66
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đặc điểm của giống ngô thu sinh khối

1.2. Giá trị dinh dưỡng của ngô sinh khối

1.3. Tình hình sản xuất ngô thu sinh khối trên thế giới và trong nước

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm thí nghiệm

2.2. Điều kiện thí nghiệm

2.3. Bố trí thí nghiệm

2.4. Quy mô thí nghiệm

2.5. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.5.1. Chỉ tiêu sinh trưởng

2.5.2. Chỉ tiêu về khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi cho cây

2.5.3. Năng suất và chất lượng ngô sinh khối

2.5.4. Quy trình canh tác ngô áp dụng trong thí nghiệm

2.6. Khoảng cách và mật độ gieo trồng

2.7. Phân bón

2.8. Tư tiêu nước

2.9. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của giống ngô MN-2

3.1.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến thời gian sinh trưởng

3.1.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây

3.1.3. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến đường kính thân của giống ngô MN-2

3.1.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm khác nhau đến khả năng chống chịu một số loại sâu bệnh và khả năng đổ ngã của giống ngô MN-2

3.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm khác nhau đến năng suất và chất lượng sinh khối

3.2.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến khối lượng sinh khối, năng suất sinh khối tươi của giống ngô MN-2

3.2.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến khối lượng sinh khối khô, hàm lượng chất khô và năng suất chất khô của giống ngô MN-2

3.2.3. Ảnh hưởng của các liều lượng phân đạm khác nhau đến hiệu quả kinh tế của giống ngô MN-2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Đề tài "Ảnh hưởng của phân đạm đến sinh trưởng và năng suất ngô MN2 trên đất nâu đỏ Đồng Nai" được thực hiện nhằm xác định liều lượng phân đạm tối ưu cho giống ngô MN2. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng ngô sinh khối, phục vụ cho nhu cầu chăn nuôi gia súc. Việc sử dụng phân đạm hợp lý không chỉ giúp cây ngô phát triển tốt mà còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quý giá cho việc quản lý đất nông nghiệp và cải thiện quy trình canh tác ngô tại Đồng Nai.

II. Tình hình sản xuất ngô và vai trò của phân đạm

Ngô là cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong chăn nuôi. Theo số liệu từ FAO, diện tích trồng ngô sinh khối trên thế giới đang gia tăng. Phân đạm đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng suất ngô. Nghiên cứu cho thấy, việc bón phân đạm đúng cách có thể làm tăng chiều cao cây, đường kính thân và chỉ số diện tích lá, từ đó cải thiện năng suất ngô. Đặc biệt, giống ngô MN2 cho thấy khả năng sinh trưởng tốt khi được bón 200 kg N/ha, mang lại năng suất sinh khối tươi cao nhất. Điều này chứng tỏ rằng phân bón là yếu tố không thể thiếu trong canh tác ngô.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp thí nghiệm đơn yếu tố với năm nghiệm thức bón phân đạm khác nhau. Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, đường kính thân, chỉ số diện tích lá và năng suất sinh khối được thu thập và phân tích. Kết quả cho thấy, bón phân đạm ở các liều lượng khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống ngô MN2. Việc áp dụng kỹ thuật canh tác hợp lý cùng với việc quản lý đấthàm lượng dinh dưỡng trong đất sẽ giúp tối ưu hóa năng suất cây trồng.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, giống ngô MN2 được bón 200 kg N/ha cho năng suất sinh khối tươi cao nhất, đạt 54,21 tấn/ha. Lợi nhuận đạt 25,45 triệu đồng/ha với tỷ suất lợi nhuận là 0,57. Điều này cho thấy rằng việc sử dụng phân bón hóa học một cách hợp lý không chỉ nâng cao năng suất mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mặc dù bón phân đạm không ảnh hưởng đến thời gian trỗ cờ và khả năng chống chịu sâu bệnh, nhưng lại có tác động tích cực đến các chỉ tiêu sinh trưởng khác của giống ngô MN2.

V. Kết luận

Nghiên cứu đã xác định được liều lượng phân đạm tối ưu cho giống ngô MN2 trên đất nâu đỏ Đồng Nai. Việc áp dụng đúng liều lượng phân đạm không chỉ giúp cây ngô sinh trưởng tốt mà còn nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong việc phát triển cây ngô sinh khối phục vụ cho chăn nuôi gia súc. Điều này góp phần quan trọng vào việc phát triển bền vững ngành nông nghiệp tại Đồng Nai.

10/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trưởng và năng suất sinh khối của giống ngô mn2 trên đất nâu đỏ tỉnh đồng nai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm của giống ngô thu sinh khối Ngô sinh khối là cây ngô được thu hoạch ở giai đoạn bắp ngô chín sáp đề làm thức ăn cho gia súc ăn cỏ. Thay vì thu hoạch dé lay hạt lúc bắp ngô đã chín hoàn toàn, cây ngô thu hoạch làm thức ăn cho gia súc ở giai đoạn bắp ngô chín sáp sẽ đảm bảo độ mềm, giàu dinh dưỡng và sự ngon miệng cho vật nuôi (Báo nông nghiệp Việt Nam, 2020). Toàn bộ cây ngô (thân, lá, bắp) thường được băm/xay nhỏ dé cho gia súc ăn trực tiếp, hoặc chế biến sâu hơn thành các thức ăn cho gia súc như ủ chua, viên nén hoản chỉnh cho gia súc ăn cỏ. Một trong những yêu cầu quan trọng của các giống ngô thu sinh khối tốt cần cho năng suất sinh khối cao, bộ lá bó đứng dé chịu được mật độ dày, bộ rễ chân kiéng chắc khỏe, có khả năng chống chịu tốt, cây to khỏe, chống đồ tốt, sạch bệnh, bộ lá xanh bền và có hàm lượng chất khô cao (Đào Ngọc Ánh, 2023).

Ngoài ra còn có khá nhiều đặc điểm khác biệt giữa ngô làm thức ăn xanh so với ngô sản xuất lấy hạt truyền thống: Bảng 1.1 Một số đặc điểm khác biệt giữa ngô làm thức ăn xanh và ngô sản xuất lấy hạt Bộ phận Ngô làm thức ăn xanh Ngô sản xuất lay hat Thân cây Cao, mềm, vỏ thân mỏng Thấp hon,than chắc, vỏ thân dày, cứng Lá Nhiều lá phía trên bắp, lá rộng Ít lá phía trên bắp, lá gon tổ Đóng bắp thấp, nhiều bắp khi Đóng cao hơn, không có hiện tượng đa ap x. , " 2 sẽ trông ở mật độ vừa phải bap ở mật độ vừa phải Hạt mềm để tối ưu hoá khả " : Hat cứng dé dé sơ chê và bảo quản lâu Hạt năng tiêu hoá trong hệ tiêu hoá / ; dai trong kho sau thu hoach cua gia súc Gan lá Gan gitra la mau nau Không quan tam (Pordesimo.2004) Như vay, giống ngô lai dùng đề thu sinh khối trong chăn nuôi có những đặc điểm khác so với giống lấy hạt truyền thống. Đây chính là lý do mà công ty kinh doanh hạt giống ngô lớn nhất thé giới Pioneer tô chức chuyên cung cấp các loại giống ngô lai theo chuyên hạt hay chuyên cho sinh khối và khuyến cáo nên sử dụng các loại giống chuyên biệt này theo mục đích phù hợp (Ridsdale, S. Pioneer đã tập hợp các giống ngô lai sản pham của mình theo nhóm cho sản xuất hạt, nhóm cho sản xuất sinh khối và khuyến cáo từng giống riêng theo vùng sinh thái khác biệt qua đó gợi ý nông dân trồng từng giống cụ thể.2 Giá trị dinh dưỡng của ngô sinh khối Một nghiên cứu của Bộ môn Cây thức ăn chăn nuôi (Viện Nghiên cứu Ngô) phối hợp với Công ty TNHH Hạt giống Việt (VietSeed) thực hiện cho thấy, ngô (sinh khối, thu hoạch giai đoạn chín sáp) là thức ăn thô xanh đứng thứ 2 về hàm lượng dinh dưỡng trong số các nhóm cỏ được nghiên cứu (chỉ đứng sau nhóm cỏ Slyto, Centro, Alfalfa, đậu tương).

Đặc biệt, ngô sinh khối có hàm lượng vật chất khô rất cao (giao động xoay quanh 28-35%), đứng đầu trong số các loại cỏ dành cho thức ăn chăn nuôi. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy các chỉ số như ADF (Acid Detergent Fiber - chất xơ không hoà tan trong acid); chỉ số NDF (Neutral Detergent Fiber - chat xơ không tan trong dung dịch trung tính); hàm lượng Protein thô. của ngô sinh khối đều ở mức phù hợp đối với thức ăn thô dành cho gia súc ăn cỏ (ADF của ngô sinh khối khoảng 25%; NDF khoảng 43% va Protein thô khoảng trên 8%).2 Thanh phan dinh dưỡng trong thân, lá và lõi ngô lai Thành phân dinh dưỡng Đơn vị Cây xanh không bắp Lõi ngô Nước % Liga 10,2 Protit % 1,30 2,40 Lipit % 0,40 0,50 Duong, bột % 1,39 54,5 Xenlulo % 6,00 30,1 Khoáng chat % 1,40 1,40 (Đường Hong Dat, 2004) Ngô cũng được đánh giá là có nhiêu ưu diém so với các loại co khác như nang suất khá cao (từ 45-50 tân/ha/lứa), có thé trồng bằng hạt trên diện tích lớn, chi phí trồng trung bình, dinh dưỡng tốt, rat dé tiêu, ngon miệng. Ngô là loại cây lương thực có tỷ lệ tinh bột, protein, lipit trong hạt cũng như trong thân, lá tương đối cao (Bảng 1.2) và được đánh giá là nguồn thức ăn chăn nuôi chất lượng cao.

So với các loại cỏ làm thức ăn trong chăn nuôi thì hàm lượng các chất dinh dưỡng tương đương nhau, trong đó hàm lượng protein trong cây ngô sinh khối cao hơn han (Bảng 1.3 Thành phần dinh dưỡng của cây ngô tươi so với cỏ voi và cỏ stylo Đơn vị Cỏ voi 60 ngày Chỉ tiêu , Cây ngô tươi Cỏ stylo tính tuôi (mùa khô) Vật chất khô % 20,0 15,9 12,9 Protein % 1,76 1,99 1,78 Lipid % 0,51 0,47 0,39 Khoáng tổng số % 1,58 0,97 0,69 Xo tong số % 6,93 6,55 6,21 (Nguyễn Xuân Trach, 2012) Giá trị dinh dưỡng của cây ngô thu sinh khối phụ thuộc nhiều vào thời gian thu hoạch cây, được thể hiện rõ ở Bảng 1.4 Giá trị dinh dưỡng toàn thân cây ngô trong các giai đoạn khác nhau : Protein thô Lipit Dan xuat Thoi diém thu hoach VCK UFL (%) (%) không đạm(2) Giai đoạn 9 — 10 lá 15,3 1,78 31,2 0,35 47,8 Giai đoạn chin sữa 22,5 1,99 31,5 0,47 48,4 Giai doan sau thu hoach 31,1 1,32 23,9 0,42 49,3 (không bap) (Pozy va cong su, 1998) Trông ngô sinh khôi phục vu chê biên thức ăn chăn nuôi làm thức ăn cho gia súc có thể thu hoạch nhiều đợt ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau: Khi cây được 9 — 10 lá, xoắn ngọn, trổ cỜ, ra bắp bao tử, chín sữa. Tuy nhiên, việc thu hoạch cây ngô xanh làm thức ăn tươi cho gia súc vào giai đoạn chín sữa là lý tưởng nhất (Nguyễn Xuân Trạch, 2012), bởi các lý do: (i) Giai đoạn này, cây ngô cho khối lượng sinh khối cực dai, (ii) cây ngô vẫn còn mềm, giòn, có vị đậm, mùi thơm đặc trưng của ngô, (iii) Cây ngô đã tích luỹ day đủ dinh dưỡng trong thân, lá và bắp ngô, hàm lượng protein thô và lipid đạt cao nhất, và (1v) chỉ số đơn vị tạo sữa (UFL) trong cây lúc này đạt cao nhất.3 Tình hình sản xuất ngô thu sinh khối trên thế giới và trong nước 1.1 Tình hình sản xuất ngô thu sinh khối trên thế giới Theo số liệu của FAO (2023) cho thay (Bang 1.5) diện tích gieo trồng cây ngô sinh khối trên thé giới dao động 194 - 206 triệu ha và năng suất dao động 57 - 59 tan/tuoi/ha. Ở châu Á và Đông Nam Á, diện tích gieo trồng và năng suất đều có xu hướng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Ở châu Á, diện tích trồng ngô sinh khối chiếm khoảng 32 - 35% diện tích của thế giới, trong khi năng suất thấp hon, chỉ bang 92 - 96% năng suất bình quân của thé giới.

Ở Đông Nam Á, diện tích trồng ngô sinh khối chỉ chiếm 13-17% diện tích ngô châu Á và năng suất bang 81 - 87% năng suất trung bình của châu A và 79 - 81% năng suất ngô thé giới. Điều này cho thấy, châu Á nói chung, Đông Nam Á chưa chú trọng phát triển cây ngô sinh khối làm thức ăn cho gia súc nhai lại (Nguồn: FAOSTAT, 2023). Tại NewZealand, ngô ủ chua đóng vai trò rất quan trọng trong ngành chăn nuôi. Năm 2008, diện tích ngô lấy sinh khối là 80.000 ha trong khi ngô lấy hạt chỉ đạt 20.

Kết quả khảo sát của trung tâm Nghiên cứu cơ hội phát triển của New Zealand cho biết, năng suất ngô ủ chua trung bình ở New Zealand năm 2017 đạt 53 — 55 tan/ha, tổng lượng ngô ước tính 975. Theo William va cs (2007), dé tồn tại và phát triển ngành sữa ở New Zealand, hệ thống trang trại nước này phải đủ sức cạnh tranh và cây ngô sinh khối phải cần được chú ý đặc biệt. Điều này có thể đúng với nhiều nước khác khi chăn nuôi bò sữa được coi trọng như là ngành kinh tế quan trọng. Cây ngô sản xuất theo hướng năng suất sinh khối cao ngoài mục đích làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc còn có thể dùng nguyên liệu sản xuât nhiên liệu sinh học.

Năm 2010, diện tích trồng ngô thu sinh khối ở Mỹ chiếm khoảng 7% tổng diện tích trồng ngô của cả nước, nhiều nhất ở bang Wisconsin (Natalia de Leon, 2011). Ở Wisconsin có một sô nghiên cứu khá sâu về tao giông ngô cho năng suât sinh khôi cho 7 cả thức ăn chăn nuôi và sản xuất săng sinh học, đặc biệt là sau hiệu lực của sắc lệnh Act 2007 (Energy Independence and Security Act of 2007) về bao đảm an ninh năng lượng quốc gia của chính phủ Mỹ, trong đó nhấn mạnh năng lượng sinh học sẽ là nguồn năng lượng ngày càng quan trọng. Ngoài chất lượng thức ăn chăn nuôi thì khả năng thu hồi ethanol rất được chú ý. Theo kết quả khảo sát của Đại học Wisconsin, nang suất ethanol từ thân lá khá cao, trong đó có 6% ethanol thu được từ cờ, 13% thu được từ cùi ngô, 10% từ cuống và vỏ ngô, 6% từ gân lá, 12% từ bẹ lá và 46% từ thân cây (Natalia de Leon, 2011).

Các nghiên cứu của đại học Wisconsin về ngô sinh khối được thực hiện rất quy mô và đầy đủ về giống, nông học, chất lượng thức ăn chăn nuôi, khả năng tiêu hóa, năng suất sữa, năng suât ethanol. Ấn Độ là nước đứng đầu sản lượng sữa trên thế giới và số lượng bò sữa cũng lớn nhất (Sản xuất ngô sinh khối bền vững cải thiện năng suất chăn nuôi tại Án Độ (2016). Hiện nay, toàn An Độ mới trồng diện tích ngô sinh khối là 0,06 triệu ha, sản lượng 2,27 triệu tan và năng suất đạt 40-41 tan/ha (Kalra, 2018).2 Tình hình sản xuất ngô sinh khối ở Việt Nam Ở nước ta, ngô là cây lương thực, thực phâm quan trọng, là cây nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, ngô còn là cây nguyên liệu đề sản xuất Ethanol — xăng sinh học E5 sạch với môi trường, cây năng lượng của thế kỷ 21. Vì vậy, ngô đã và đang được trồng ở hầu khắp các vùng sinh thái nông nghiệp của cả nước.

Mặc dù vậy, cây ngô ở Việt Nam có những bước phát triển thăng trầm, những năm gần đây nhờ có nhiều chính sách phù hợp của Đảng và Chính phủ, nhất là áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về giống, biện pháp kỹ thuật canh tác và liên kết sản xuất giữa trồng trọt, chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa nên cây ngô đã có bước tiến đài trong tăng trưởng về diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Ảnh hưởng của phân đạm đến sinh trưởng và năng suất ngô MN2 trên đất nâu đỏ Đồng Nai" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của phân đạm trong việc thúc đẩy sự phát triển và năng suất của giống ngô MN2. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng phân đạm hợp lý không chỉ cải thiện sự sinh trưởng của cây mà còn tăng cường năng suất thu hoạch, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp tại khu vực Đồng Nai. Bài viết này rất hữu ích cho nông dân và các nhà nghiên cứu trong việc áp dụng các biện pháp canh tác hiệu quả hơn.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về ảnh hưởng của phân bón trong nông nghiệp, hãy tham khảo bài viết Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống dâu thu hoạch quả tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, nơi bạn sẽ thấy những ứng dụng tương tự trong việc cải thiện năng suất cây trồng. Ngoài ra, bài viết Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng phát triển của giống chè LDP1 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang cũng sẽ mang đến cho bạn những thông tin bổ ích về cách phân bón tác động đến các loại cây trồng khác. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân vô cơ đến sinh trưởng và năng suất giống đậu tương DT51 vụ hè thu 2017 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên để mở rộng hiểu biết về các loại phân bón khác nhau và tác động của chúng đến năng suất cây trồng.