Đặt vấn đề Cây đậu tương, hay đỗ tương, đậu nành (tên khoa học Glycine max(L)), là cây trồng có mặt ở Việt Nam từ rất lâu đời. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [4]. Đậu tương là cây trồng có giá trị kinh tế cao, thành phần dinh dưỡng trong hạt khá đầy đủ vầ cân đối: Hàm lượng Protein chiếm 32 - 45%, Lipit chiếm 12 - 24%, Gluxit chiếm 16 - 20% và còn chứa hầu hết các axit amin cần thiết cho cơ thể như: Lizin, Xystin, Triptophan, Leuxin, Methionin… Với thành phần dinh dưỡng như vậy hạt đậu tương có thể thay thế hoàn toàn đạm động vật trong bữa ăn hàng ngày của con người.
Bên cạnh đó thân lá đậu tương cũng có nhiều Protein, với hàm lượng khoảng 8 - 15%, cao gấp 3 - 5 lần Protein trong rơm rạ và các cây ngũ cốc khác. Vì vậy thân lá đậu tương là nguồn thức ăn cho gia súc, gia cầm, là nguồn chất xah cải tạo đất. Đậu tương có khả năng cố định Nitơ của khí quyển thông qua hoạt động của các vi khuẩn Rhizobium có trong nốt sần ở rễ. Cây đậu tương ăn sâu phân nhánh nhiều làm đất tơi xốp.
Làm tăng giá trị cải tạo đất của đậu tương. Đậu tương là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn ( từ 75 - 150 ngày) lại được trồng nhiều vụ trong năm và ở nhiều cùng khác nhau, do vậy cây đậu tương có thể trồng xen với các cây trồng khác, vừa có thể trồng luân canh cải tạo đất kể cả cây ngày ngắn và cây ngày dài… góp phần nâng cao năng suất cây trồng sau, nâng cao hệ số sử dụng đất. Với những đặc điểm trên, cây đậu tương là cây trồng được Nhà nước chú trọng phát triển, không ngừng tăng diện tích và tăng năng suất.Tuy nhiên năng suất cây đậu tương ở nước ta còn thấp. Luan van 2 Có nhiều nguyên nhân làm cho năng suất cây đậu tương ở nước ta còn thấp như giống, kỹ thuật trồng trọt.
Để nâng cao năng suất, chất lượng của cây đậu tương chúng ta phải chọn được giống có năng suất cao, phẩm chất tốt và chế độ thâm canh phù hợp, bón phân cân đối, hợp lý với từng loại đất, từng vùng sinh thái, từng mùa vụ. Võ Nhai thuộc huyện trung du và miền núi phía bắc hiện nay cơ cấu cây trồng đang chuyển dần về các loại cây ăn quả và cây lương thực ngắn ngày trong đó có đậu tương. Tuy nhiên trong những năm gần đây sản lượng và năng suất đậu tương trên địa bàn huyện có xu hướng giảm, nguyên nhân là do chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên thời vụ trồng đậu tương cũng bị ảnh hưởng, nhưng nguyên nhân chính là người dân chỉ dùng phương pháp ước lượng lượng phân bón cho diện tích gieo trồng chứ chưa có phương pháp bón phân khoa học, cộng với đó là tổ hợp phân thích hợp giúp cho cây sử dụng một cách tối đa, giảm chi phí và không để lại dư thừa trong đất. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế, góp phần phát triển cây đậu tương ở nước ta, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân vô cơ đến sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2017 tại Huyện Võ Nhai, Tỉnh Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nhằm xác định được lượng phân bón vô cơ thích hợp cho sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT 51 vụ hè thu tại Võ Nhai, Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến đặc điểm nông học, sinh học của giống đậu tương ĐT 51. - Đánh giá ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT 51. - Đánh giá ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT 51.
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón vô cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT 51. Ý nghĩa khoa học và ý thực tiễn của đề tài: 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và học tập. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở để xác định lượng phân bón vô cơ thích hợp cũng như kỹ thuật phù hợp cho cây đâu tương ĐT51 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Nhu cầu dinh dưỡng của đậu tương Đậu tương cần đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết để sinh trưởng, phát triển bình thường. Nếu thiếu hoàn toàn hoặc bất cứ các yếu tố nào đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Để phát huy đầy đủ tác dụng của các loại phân bón cho đậu tương, cần phải hiểu rõ đặc tính lý hóa và thành phần dinh dưỡng của đất, đặc điểm tính chất của các loại phân bón, đặc điểm dinh dưỡng của cây đậu tương. Đậu tương cảm ứng với muối khoáng hơn các loại cây trồng khác, do đó khi bón phân cho đậu tương, không nên rắc tập trung mà nên vãi đều trên bề mặt để không ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt. Trong trường hợp đất nghèo dinh dưỡng hoặc lượng phân ít buộc phải bón tập trung thì nên rắc phân cách hàng 8 -13cm, lấp sâu 8 -10cm. Không nên rắc phân ngay dưới hàng hạt, rễ sẽ ăn sâu thẳng xuống mà không phát triển bề rộng.
Bón phân tập trung gần hạt, làm rễ mầm bị cháy không đảm bảo mật độ cây. Có 16 nguyên tố cần thiết cho sinh trưởng của cây đậu tương. Trong đó 3 nguyên tố C, H và O là thành phần chủ yếu trong chất khô và được hấp thụ dưới dạng CO2, H2O, O2 tự do trong không khí. Những nguyên tố cần thiết khác là N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, Cu, B, Zn và Cl.
Bên cạnh đó Co là nguyên tố có ích cho cố định N và cũng được coi là nguyên tố cần thiết (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [4]. Các nghiên cứu về sự hấp thu NPK ở các giống đậu tương với tập tính sinh trưởng vô hạn cho thấy kiểu hấp thụ N, P, K ở trong có cây giống nhau và sự tích lũy tối đa của nó xảy ra ở giai đoạn chín sinh lý. Với các giống đậu tương sinh trưởng hữu hạn, cho thấy tỷ lệ hấp thụ các chất khoáng N, P, K, Ca và Mg tăng dần qua các giai đoạn hình thành hạt (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [4]. Để đạt được năng suất cao, phẩm chất tốt thì đậu tương cần được bón đậy đủ phân hữu cơ và các loại phân khoáng khác, vì nó chỉ có thể sinh trưởng và phát triển tốt khi được bón đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết (Phạm Văn Thiều, 2006) [11].
Luan van 5 Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của đậu tương, tác giả Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên (1999) [14] cho biết: Để tạo ra 1 tấn hạt đậu tương cần cung cấp đầy đủ và cân đối các yếu tố dinh dưỡng đa lượng như N, P, K, Canxi và các yếu tố vi lượng như Mn, Zn, Cu,B, Mo. Lượng phân bón trong thực tế sản xuất phải tùy thuộc vào thời vụ, chân đất, cây trồng vụ trước cụ thể mà bón cho thích hợp (Trần Thị Trường và cs, 2006) [ 13]. Theo tác giả Nguyễn Văn Bộ (2001) [1] thì biện pháp ổn định hàm lượng hữu cơ trong đất là vô cùng quan trọng, vì nó làm cho đất tơi xốp, tăng cường khả năng giữ ẩm, giữ chất dinh dưỡng và giảm các yếu tố độc hại cho đất. Thiết lập hệ thống quản lý dinh dưỡng tổng hợp mà trong đó dinh dưỡng từ nguồn cung cấp hữu cơ, phân vi sinh, đảm bảo cung cấp đủ về lượng, cân đối về tỷ lệ tại từng thời điểm theo nhu cầu sinh trưởng của cây nhằm khai thác khả năng của hệ sinh thái.
Vai trò của phân bón đối với cây đậu tương Năng suất cây trồng không ngừng tăng lên, ngoài vai trò của giống mới còn có tác dụng quyết định của phân bón, giống mới cũng chỉ phát huy được tiềm năng của mình cho năng suất cao khi được bón đủ phân và bón phân hợp lý (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [9]. Tổ chức FAO (1989) tổng kết cứ mỗi tấn chất dinh dưỡng sẽ sản xuất được 10 tấn ngũ cốc. Bón phân cân đối và vừa phải có thể làm tăng chất lượng sản phẩm, thiếu chất dinh dưỡng, bón phân không cân đối hoặc bón quá nhu cầu của cây đều làm giảm chất lượng nông sản. Giữa các bộ phận trong cây thì phân bón làm thay đổi thành phần hóa học của lá, làm thay đổi thành phần hóa học của hạt (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [19].
Trong việc nghiên cứu phân bón không phải chỉ chú ý đến việc tăng năng suất mà phải đánh giá chất lượng sản phẩm. Biện pháp phân bón đưa ra phải không gây ô nhiễm môi trường sống (Nguyễn Ngọc Nông 1999) [12]. Vai trò của đạm đối với đậu tương Phân đạm đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất của đậu tương. Nguồn cung cấp đạm cho đậu tương là từ phân bón, đất và Luan van 6 khả năng tự cố định đạm khí trời nhờ vi khuẩn Rhyzobiumjaponicum.
Mỗi giai đoạn sinh trưởng đậu tương cần lượng đạm khác nhau. Đạm được sử dụng dưới các dạng như NH4NO3, HNO3, NH4OH và ure. Trong đó ure là nguồn đạm tốt nhất, các nguồn đạm khác có hiệu lực thấp hoặc không ổn định. Đậu tương là cây họ đậu có khả năng cố định đạm từ khí trời để cung cấp cho cây, do vậy thường bón ít phân đạm cho đậu tương.
Khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nghiên cứu của Võ Minh Kha (1997) [8] trên đất tương đối nhiều dinh dưỡng bón đạm làm tăng năng suất đậu tương lên 10 - 20%, còn trên đất thiếu dinh dưỡng bón đạm làm tăng năng suất 40 - 50%. Vai trò của lân đối với đậu tương Cây đậu tương thường hút lân từ phân bón và hút đến tận cuối vụ. Tuy nhiên việc tăng P tổng số hấp thu có thể bị giới hạn do P trong phân được thay bằng P trong đất.