MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Ở nƣớc ta trồng trọt và chăn nuôi có vai trò rất quan trọng, trong cơ cấu nông nghiệp chúng có quan hệ gắn bó hỗ trợ nhau cùng phát triển, ngành chăn nuôi đã đem lại lợi nhuận kinh tế đáng kể cho đất nƣớc đặc biệt là chăn nuôi lợn. Lợn là một trong những con vật nuôi chính, hiện đang đƣợc nuôi tại các xí nghiệp, trang trại, cũng nhƣ các nông hộ, nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời dân lao động. Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con ngƣời về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng cao không những về số lƣợng mà cả chất lƣợng của sản phẩm phải đảm bảo về chất lƣợng dinh dƣỡng, đặc biệt là phải an toàn cho sức khỏe ngƣời tiêu dùng.
Thịt lợn không chỉ cần thiết cho nhu cầu dinh dƣỡng của con ngƣời mà còn phù hợp với khẩu vị của đại đa số ngƣời sử dụng nó. Thịt lợn chiếm 75- 80% so với các loại thịt trong chăn nuôi. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu bức thiết này, Đảng và Nhà nƣớc ta không ngừng quan tâm đầu tƣ phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Để phát triển chăn nuôi lợn cần thực hiện tốt các khâu chăm sóc nuôi dƣỡng và phòng bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, đảm bảo lợn con sinh trƣởng nhanh, khỏe mạnh và cung cấp con giống có chất lƣợng tốt cho chăn nuôi.
Xuất phát từ thực tế trên, đƣợc sự đồng ý của khoa Chăn nuôi - Thú y, trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và giáo viên hƣớng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: "Áp dụng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh 2 cho lợn con, giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Khương Tuấn Bình liên kết với Tập đoàn BMG" 1. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.1 Mục đích - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Khƣơng Tuấn Bình liên kết với Tập đoàn BMG. - Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dƣỡng cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi. - Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại.
Yêu cầu - Đánh giá đƣợc tình hình chăn nuôi tại Khƣơng Tuấn Bình liên kết với Tập đoàn BMG. - Áp dụng đƣợc các quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi. - Xác định đƣợc tình hình nhiễm bệnh, biết các phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Quá trình thành lập và phát triển của tổng công ty tập đoàn BMG và trại lợn Khương Tuấn Bình liên kết với Tập đoàn BMG. Công ty CP Thuốc Thú y Đức Hạnh Marphavet đƣợc thành lập tháng 12 năm 2002, hoạt động kinh doanh chính trong các lĩnh vực: Sản xuất vắc xin phòng bệnh, sản xuất kinh doanh thuốc thú y, dƣợc phẩm, thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi… Nhận thức sâu sắc vấn đề tầm nhìn, sứ mệnh và tạo giá trị cốt lõi cho xã hội, định hƣớng phát triển sản phẩm chất lƣợng cao, lựa chọn phân khúc khách hàng chăn nuôi có kĩ thuật, chuyên nghiệp, theo hƣớng công nghiệp quy mô lớn. Ngay từ những ngày đầu, HĐQT đã định hƣớng cần phải đổi mới công nghệ, đổi mới dây chuyền máy móc thiết bị, nâng cao chất lƣợng, lấy phƣơng châm “Hiệu quả sử dụng của bạn là sức mạnh của chúng tôi” là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động và là tiền đề để Công ty vƣơn lên phát triển trở thành một trong những Công ty hàng đầu Việt Nam sản xuất vắc xin, thuốc thú y chất lƣợng cao, tiêu chuẩn quốc tế, hƣớng đến xuất khẩu và cạnh tranh bền vững thời kỳ hội nhập.
Sản phẩm của Marphavet mang lại giá trị kinh tế và hiệu quả điều trị bệnh cao, hợp với hình thức chăn nuôi trang trại công nghiệp quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại, đầu năm 2010, Ban Giám đốc công ty đã đầu tƣ hơn 195 tỷ đồng xây dựng nhà máy thuốc thú y đạt tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới GMP/WHO với 3 dây chuyền: Thuốc tiêm, thuốc dung dịch uống và thuốc bột, đƣa vào sử dụng từ cuối năm 2011. Đến nay, Công ty tiếp tục đầu tƣ thêm trên 250 tỷ đồng xây dựng nhà máy vắc xin với 3 dây chuyền sản xuất vắc xin vi khuẩn, dây truyền vắc xin vi rút trên tế 4 bào và dây chuyền sản xuất vắc xin vi rút trên phôi trứng, cả 3 dây chuyền công nghệ châu Âu đang đi vào hoạt động và cho kết quả tốt. Sau hơn 12 năm hoạt động, Marphavet đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc cả về quy mô sản xuất kinh doanh, thị trƣờng và số lƣợng cán bộ chuyên nghiệp có chiều sâu, am hiểu sâu sắc tƣ duy quản trị. Hiện tại, Marphavet có 5 công ty thành viên và 12 chi nhánh tại các thành phố lớn gồm: Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, Công ty cổ phần Nanovet, Công ty cổ phần BMG, Công ty cổ phần Hoàng Đức Hiền, Công ty cổ phần Aboss.
Với tổng diện tích hơn 12,5 ha và 2 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP/WHO trên cả 6 dây chuyền thuốc và vắc xin công nghệ cao. Trụ sở nhà máy đặt tại xã Trung Thành- Phổ Yên- Thái Nguyên và 12 chi nhánh khác trên cả Nƣớc nhƣ: Chi nhánh Cần Thơ, Chi nhánh Quận 9 - TPHCM, Chi nhánh Đồng Nai, Chi nhánh Dắk Lắc, Chi nhánh Nha Trang, Chi nhánh Đà Nẵng, Chi nhánh Huế, Chi nhánh Hải Phòng và Chi nhánh Mỹ Đình - Hà Nội. Sản phẩm của Marphavet phủ khắp 63 tỉnh thành trong cả nƣớc và xuất khẩu sang trên 10 nƣớc trên Thế giới. Hệ thống nhà phân phối và đại lý với số lƣợng hơn 8.
Marphavet có đội ngũ nhân sự chuyên môn trình độ cao với hơn 1.000 cán bộ nhân viên bao gồm 2 Giáo sƣ, 5 Phó Giáo sƣ, 8 Tiến sỹ, 29 Thạc sỹ, trên 500 Bác sĩ thú y và Kĩ sƣ chăn nuôi, 15 Dƣợc sĩ nhân y, 12 Cử nhân Công nghệ sinh học có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành, hơn 250 Cử nhân kinh tế, Kế toán, Luật, Nhân văn, Quản trị kinh doanh, Marketing, Cơ khí chế tạo máy, Điện lạnh…có trình độ chuyên môn thƣờng xuyên đƣợc tập huấn ở nƣớc ngoài và các chuyên gia nƣớc ngoài sang đào tạo, đội ngũ công nhân thâm niên lành nghề, môi trƣờng làm việc thân thiện, chuyên nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến. Ngoài ra Công ty đang hợp tác tốt với các Bộ, Vụ, Cục, Viện, Liên hiệp, Hội, Trung tâm và các trƣờng đại học trong và ngoài nƣớc. 5 Trong quá trình xây dựng và phát triển, Ban lãnh đạo Công ty luôn đề cao nhân tố con ngƣời, đặt con ngƣời vào vị trí trung tâm trong mọi hoạt động. Chính sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Lãnh đạo Công ty cộng với tinh thần ham học hỏi, giao lƣu, chia sẻ, không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ, kinh nghiệm của cán bộ công nhân viên đã tạo nên sức mạnh tổng lực giúp Marphavet vƣơn lên và khẳng định thƣơng hiệu cũng nhƣ đứng vững trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế.
Trang trại sản xuất lợn hƣớng nạc của ông Khƣơng Tuấn Bình làm trƣởng trại, nằm trên địa phận xã Phú Lâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Trại lợn đƣợc thành lập năm 2007, là trại lợn tƣ nhân do ông Khƣơng Tuấn Bình làm chủ đầu tƣ. Cơ sở vật chất của trang trại Trại lợn ông Khƣơng Tuấn Bình đƣợc xây dựng trên địa bàn xã Phú Lâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Địa bàn xã giáp với đƣờng quốc lộ 1A rất thuận tiện cho việc di chuyển và giao thông vận tải hàng hóa.
Đoạn đƣờng cũng tiếp giáp với lối ra đƣờng mòn Hồ Chí Minh nên càng thuận lợi hơn. Địa bàn thuộc vùng giáp vùng núi của tỉnh Thanh Hóa nên thời tiết cũng ổn định hơn ngoài vùng ven biển và vùng núi. Đƣờng giao thông đƣợc nâng cấp thuận lợi cho việc giao thông vận tải, trọng tải nhỏ hơn 16 tấn. Trại lợn cách khu dân cƣ 1km.
Khu chăn nuôi trại lợn của ông Khƣơng Tuấn Bình đƣợc xây dựng trên diện tích 3 ha gồm trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Ngoài ra, xung quanh trại là một diện tích nhỏ đất trồng cây ăn quả, ao hồ chứa nƣớc và nuôi cá nƣớc ngọt, và tận dụng các khoảng đất trống để trồng rau xanh. 6 Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào riêng. Chuồng trại đƣợc quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hƣớng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng lồng, sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con, cùng với hệ thống vòi nƣớc tự động và máng ăn.
Mỗi chuồng đƣợc lắp đặt hệ thống bơm nƣớc để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hàng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nƣớc thải. Trong khu chăn nuôi đƣợc quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 200 nái bao gồm: 1 chuồng đẻ có 50 ô kích thƣớc 2,4m × 1,6m/ô, 1 chuồng bầu có 150 ô kích thƣớc 2,4m × 0,65m/ô, 1 chuồng đực giống + nái hậu bị có 10 ô kích thƣớc 5m × 6m, 3 chuồng thƣơng phẩm mỗi chuồng có 10 ô kích thƣớc 5m × 6m, và 1 chuồng úm có 10 ô kích thƣớc 5m × 6m. Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi nhƣ: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc… Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; 4 quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thƣơng phẩm, chuồng nái hậu bị + đực giống và chuồng úm.
Hai bên tƣờng có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 50cm. Trên trần đƣơc lắp hệ thống chống nóng bằng thép. Phòng pha tinh của trại đƣợc trang bị các dụng cụ hiện đại nhƣ: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác. Trong khu chăn nuôi, đƣờng đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều đƣợc đổ bê tông và có các hố sát trùng.