Đặt vấn đề Rừng là nguồn tài nguyên quý của tự nhiên. Rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như trong sự tồn tại của con người và các loài sinh vật khác trên Trái đất. Rừng cung cấp thức ăn, chỗ ở cho các loài động vật. Đối với con người rừng điều hòa khí hậu, điều hòa nguồn nước, cung cấp thức ăn.và nhiều sản phẩm khác cho con người.
Đặc biệt rừng cung cấp khí O; cho sự sống của con người và các loài sinh vật khác. Rừng ảnh hưởng đến sự cân bằng O; và CO; trong khí quyên, và nó giữ vai trò là bề chứa CO). Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, con người đã và đang thải vào khí quyển một lượng lớn các chất khí độc hại có ảnh hưởng sấu đến môi trường sống của con người nói riêng vả của tất cả các loài sinh vật nói chung. Một trong các vấn đề nóng được toàn xã hội quan tâm hiện nay là nhiệt độ Trái đất tăng lên, mà nguyên nhân của sự tăng nhiệt độ này chính là sự gia tăng của khí CO; và các khí nhà kính khác trong khí quyên.
Trước tình hình đó các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn sự nóng lên của trái đất và sự gia tăng của các chất khí độc hại thải vào môi trường, nhưng hiệu quả của những giải pháp đó mang lại không cao. Cho đến những năm gần đây, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và chỉ ra rằng các loài cây rừng có khả năng hấp thụ một lượng lớn khí CO; và các chất khí độc hại khác do con người thải ra. Rừng với chức năng là bể chứa CO, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong cân bằng O; và CO; của khí quyên. Do đó, nó có ảnh hưởng lớn đến tiểu khí hậu của từng vùng cũng như toàn cầu.
Rừng có ảnh hưởng lớn đến nhiệt độ trái đất thông qua việc điều hòa các khí gây hiệu ứng nhà kính, mà quan trọng là khí CO¿;. Với mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và các hoạt động khác hiện nay của con người, các nhà khoa học đã ước tính nhiệt độ trái đất có thể tăng lên từ 1,5°%C — 4,5°C vào năm 2050. Nhưng nhờ có rừng mà hàng năm có khoảng 100 tỷ tấn CO; trong khí quyền được cố định bởi quá trình quang hợp của cây xanh, và cũng một lượng tương tự được trả lại do quá trình hô hấp của sinh vật. Đồng thời cây rừng cũng thải ra khoảng 52,2 tỷ tấn O; đề phục vụ cho quá trình hô hấp của con người và các sinh vật khác trên trái đất.
Do đó, việc quản lý chu trình CO; trong điều hòa khí hậu, giảm tác hại hiệu ứng nhà kính đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đánh giá về khả năng hấp thụ của từng kiểu thảm phủ cụ thê dé làm cơ sở lượng hóa những giá trị kinh tế mà rừng mang lại nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả trong bảo vệ, phát triển rừng và các chính sách chỉ trả cho chủ rừng và các cộng đồng vùng cao. Mặt khác, trên thế giới, việc nghiên cứu để lượng hóa những giá trị về mặt môi trường của rừng trong giai đoạn khởi đầu là hoàn toàn mới ở Việt Nam. Chính vì vậy, nghiên cứu sự tích lũy Các bon trong thực vật thân gỗ dé xác định giá trị kinh tế đối với chức năng phòng hộ môi trường sinh thái của rừng tự nhiên là một hướng nghiên cứu mới cần được quan tâm. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiền hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá khả năng tích lũy Các bon phần trên mặt đất của một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã Thân Sa, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Than Sa - Phuong Hoang, huyén V6 Nhai, tinh Thai Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của các trạng thái rừng tự nhiên thuộc tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nhằm xác định giá trị rừng thông qua lượng các bon tích lũy, đồng thời làm cơ sở khoa học cho việc gia nhập cơ chế REDD ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được lượng các bon tích lũy trên mặt đất trong các trạng thái rừng tự nhiên tại xã Thần Sa thuộc Khu bảo BTTN Thần Sa — Phượng Hoàng. - Tính toán được tông lượng các bon tích lũy trong các trạng thái rừng tự nhiên trên địa bàn xã Thần Sa.Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua quá trình nghiên cứu đề tài sẽ củng cố cho sinh viên những kiến thức đã học trên lớp vào thực tiễn, nhằm giúp cho sinh viên được làm quen dần với thực tế sản xuất. Sau khi hoàn thành đề tài sinh viên có thể học được các phương pháp, kĩ năng trong lập kế hoạch, viết báo cáo, phân tích số liệu.Đây là những vấn đề cần thiết cho công việc sau này.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Nghiên cứu dé tai sẽ đánh giá được vai trò của rừng nói chung và của từng trạng thái rừng nói riêng trong việc hấp thụ khí CO; nhằm góp phần nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ tài nguyên rừng vả môi trường sinh thái. Nghiên cứu đề tài giúp xác định lượng C tích lũy trong một số trạng thái rừng phô biến làm cơ sở cho việc ra nhập cơ chế REDD ở Việt Nam. Phần 2 TỎNG QUAN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2.
Công ước của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu Công ước của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu nhằm làm ổn định các khí nhà kính (KNK) trong khí quyền ở một mức có thê ngăn chặn và hạn chế tat cả những biến đổi nguy hiểm của khí hậu. Công ước LHQ về thay đổi khí hậu đó đã được thông qua trong hội nghị thượng đỉnh về Trái đất họp tại Riode Janerio, 1992. Cho đến nay đã được 186 nước thành viên phê chuẩn công ước này. Để đưa công ước này vào hoạt động, một nghị định thư đã được soạn thao và đưa ra thảo luận tại hội nghi Kyoto nam 1997.
Điểm quan trọng của nghị định Kyoto là sự cam kết có tính pháp lí của 39 nước phát triển nhằm giảm mức phát thải KNK của họ tối thiêu là 5,2% trong giai đoạn 2008-2012 so với các mức năm 1990. Và đây được coi là “ bước cam kết đầu tiên”. Cơ chế phát triển sạch (CDM) và thị trường Các bon 2. Cơ chế phát triển sạch (CDM) CDM là một trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto, trong đó nó cho phép các nước phát triển đạt được các chỉ tiêu về giảm phát thải KNK bắt buộc thông qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển, nhằm hấp thụ khí CO2 từ khí quyền và làm giảm lượng phát thải KNK.
Các dự án CDM có 2 mục tiêu chính là: - Nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển, nơi sẽ thực hiện các dự án CDM đạt được mục tiêu phát triển bền vững. - Nhằm cung cấp cho các nước phát triển có “cơ hội linh hoạt” để làm giảm chỉ tiêu phát thải KNK, và cho phép họ thu được các chứng chỉ giảm phát thải từ các dự án CDM đầu tư tại các nước đang phát triển (Ngô Đình Qué va cs, 2006) [5]. Thị trường Các bon Tháng 8/2001 thị trường về mua bán chỉ tiêu phát thải KNK đã được khai trương ở London. Tại thị trường nảy trước tiên có 6 loại KNK sẽ được giao địch trong đó quan trọng nhất là khí CO¿.
Đơn vị đo các loại hàng hóa khí thải nhà kính trên thị trường được tính theo tấn khí CO; và khối lượng quy đổi ra các loại khí khác Tại New Zealand tháng 8/2008 đề án thương mại phát thải đã được luận hóa và được sửa đối vào thàng 11/2009. Tháng 12/2009 Công ty cô phần tài chính dầu khí Việt Nam (PVFC) đưa ra đấu giá 350.000 CERS từ dự án thu hồi và sử dụng khí đồng hành mỏ Rạng Đông là dự án phát triển sạch (đự án CDM 0152) đầu tiên được chứng nhận giảm phát thải. Tháng 4/2010 Tokyo (Nhật Bản) đã khởi động chương trình buôn bán phát thải Các bon. Giai đoạn đầu của chương trình này kéo đài tới năm 2014, trong thời gian đó, các tổ chức tham gia sẽ phải cắt giảm phát thải Các bon ở mức 6%.
Năm 2005 giá trị giao dịch của thị trường tài chính Các bon đạt 10,908 tỷ USD với khối lượng giao dịch khoảng 0,718 tỷ tấn, năm 2006 đạt 31,235 tỷ USD với khối lượng 1,745 tỷ tấn, đến năm 2007 con số này đã đạt đến mức 64,035 ty USD cho 2,983 ty tan va nim 2008 đã tăng đến mức 126,345 tỷ USD cho mức giao dịch của 4,811 tỷ tắn. Đến 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính nên giá trị giao dịch của thị trường Các bon giảm với khối lượng 8,2 tỷ tấn khí thải CO; đã được trao đổi trên thị trường mua bán hạn ngạch khí thải thế giới với giá trị giao dịch khoảng 135 tỷ USD. Tống quan về tình hình nghiên cứu 2. Trên thế giới * Nghiên cứu sinh khối và nang suất rừng.
Sự tăng trưởng sinh khối gắn liền với tích lũy các bon của cây rừng, để nghiên cứu trữ lượng các bon của rừng hấp thu được thì bước đầu tiên là nghiên cứu sinh khôi rừng. Đầu thế kỷ 19 đã có những nghiên cứu về sinh trưởng và dự đoán sản lượng rừng, tiêu biểu 1. Nghiên cứu sinh khối và năng suất rừng như Baur, Breymann, Danckemam, Weise. mỗi tác giả đều có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau nhưng đều tìm hiểu về những quy luật sinh trưởng, mối quan hệ giữa sinh trưởng và sản lượng rừng vào không gian dinh dưỡng, quy luật kết cấu lâm phần, đặc tính di truyền của mỗi loài cây và mô phỏng bằng mô hình toán học.
Từ các công trình đó đã đưa ra kết luận rằng sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối có quan hệ chặt chẽ với nhau và phụ thuộc vào chiều cao, đường kính. Liebig (1862) đã định lượng về sự tác động của thực vật tới không khí, sau đó Mitscherlich E. Lieth, H (1994) đã thê hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ năng suất. Duyio cho biết: Hệ sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ 10 — 50 tắn/ha/năm, trung bình là 20 tắn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60 — §00 tắn/ha/năm, trung bình là 450 tắn/ha/năm.
Canell (1982) đã cho ra đời cuốn sách “sinh khối và năng suất sơ cấp của rừng thế giới”, cho đến nay nó vẫn là tác phẩm quy mô nhất.