Chương 1 LÀNG NGHỀ- PHỐ NGHỀ TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA CỦA THĂNG LONG - KẺ CHỢ - HÀ NỘI Thăng Long- Hà Nội là đô thị tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam thời kì trung đại. Sự ra đời của nó không phải là kết quả từ quá trình phát triển tự nhiên của nền kinh tế hàng hóa. Nhưng, qua nhiều thời kì phát triển, khẳng định vai trò trung tâm về kinh tế- xã hội của cả nước, hoạt động kinh tế hàng hóa nơi đây trở nên hết sức đa dạng và phong phú. Trong đó, hoạt động kinh tế chủ đạo là thủ công nghiệp, thương nghiệp.
Xuyên suốt lịch sử của chế độ phong kiến, chính sách cơ bản ở các triều đại vẫn là chính sách “trọng nông”, nông nghiệp là gốc nhưng dường như, hoạt động kinh tế náo nhiệt ở ngay tại kinh thành lại là một bức tranh khác hẳn. Kinh tế hàng hóa Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là kinh tế tự cấp tự túc và kinh tế hàng hóa. Kinh tế tự cấp tự túc là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao động tạo ra nhằm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất. Kinh tế hàng hóa là một hình thái của nền sản xuất xã hội nối tiếp và cao hơn nền sản xuất tự cung tự cấp, trong đó sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi thông qua mua- bán trên thị trường; hình thái quan hệ kinh tế thống trị của các mối liên hệ kinh tế là quan hệ hàng hoá- tiền tệ.
Nó đối lập với kinh tế tự nhiên, trong đó hình thái thống trị là các quan hệ hiện vật. 13 z Theo Mác, “kinh tế hàng hoá” là một giai đoạn phát triển nhất định trong lịch sử phát triển của xã hội theo tiến trình: kinh tế tự nhiên- kinh tế hàng hoá- kinh tế sản phẩm. Đặc trưng chung của kinh tế hàng hóa trong bất kì chế độ xã hội nào là sự tồn tại hình thái giá trị và thị trường, trong đó giá trị của hàng hoá- lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó, được đo bằng tiền tệ và mang hình thái giá cả; quy luật đặc trưng của sản xuất hàng hoá là quy luật giá trị, và những quy luật liên quan như quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật hàng hoá được trao đổi theo nguyên tắc ngang giá. Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin định nghĩa “kinh tế hàng hóa” là “kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi hoặc buôn bán trên thị trường” [Bộ giáo dục và đào tạo, 2004, 53].
Kinh tế hàng hoá ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện: - Phân công lao động xã hội: là sự phân chia lao động xã hội ra các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa sản xuất thành những ngành nghề khác nhau. Do có phân công lao động xã hội, mỗi ngành chỉ sản xuất ra một vài thứ sản phẩm. Song nhu cầu tiêu dùng của xã hội lại bao hàm nhiều thứ khác nhau làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu. - Có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất, sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.
Trong lịch sử, tính tách biệt này do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chi phối. Sau đó, trong điều kiện của sản xuất lớn với sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, thì sự tách biệt kinh tế giữa những người sản xuất, giữa các doanh nghiệp thuộc cùng chế độ sở hữu có tính tự chủ kinh doanh quy định. Điều này làm cho chủ thể sản xuất có sự độc lập nhất định, sản phẩm làm ra 14 z thuộc quyền chi phối của họ, người này muốn dùng sản phẩm lao động của người khác phải thông qua trao đổi mua bán hàng hoá. Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa.
Như vậy, kinh tế hàng hóa là nền kinh tế có biểu hiện tập trung, khái quát nhất là sản xuất ra sản phẩm để bán, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Kinh đô Thăng Long vào thế kỉ X đã bắt đầu hình thành và xuất hiện nền kinh tế hàng hóa như thế với sự phân công lao động rõ rệt, thủ công nghiệp đã dần dần tách khỏi nông nghiệp và những người thợ thủ công cũng đồng thời là những người sở hữu về tư liệu sản xuất ở những mức độ khác nhau. Liên quan chặt chẽ đến sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa Thăng Long- Kẻ Chợ, có hai khái niệm thường được nhắc đến, đó là làng nghề và phố nghề. Khái niệm làng nghề Từ xa xưa, những người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp, phục vụ cho nhu cầu đời sống.
Các hoạt động sản xuất này đã liên kết với nhau khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành các phường hội. Các nghề được lan truyền và có nhiều hộ ở nông thôn cùng sản xuất một loại sản phẩm. Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm thuê (nghề phụ). Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chuyên môn sâu hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng) dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công.
Làng nghề đã xuất hiện như vậy trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác 15 z nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề. Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng: “(…) làng nông nghiệp nhưng có thêm một hoặc nhiều nghề như: làng gốm Bát Tràng, làng Vân dệt lụa, làng khảm Chuyên Mỹ, làng tranh Đông Hồ… có thể xem đó là những làng nghề. Vậy làng nghề là làng ấy, tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, ông phó cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công.
Những mặt hàng này đã có tính mĩ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và tới thị trường đô thị, thủ đô… và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài” [Trần Quốc Vượng, 2000, 27- 28]. Theo tác giả Trần Văn Vương trong Làng nghề thủ công truyền thống, quan niệm về làng nghề là “làng cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy, không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân).
Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác. Khi nói đến một làng nghề thủ công truyền thống, ta không chỉ chú ý các mặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt, tính hệ thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và thủ pháp nghệ thuật” [Trần Văn Vương, 2002, 13]. 16 z Theo tác giả Đặng Kim Chi trong Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về Làng nghề Việt Nam và môi trường, “có thể hiểu thuật ngữ “làng nghề” là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và có thu nhập so với nghề nông” [Đặng Kim Chi, 3]. Điểm chung trong quan niệm của hai tác giả trên là đều nhấn mạnh đến nguồn gốc hình thành và đặc điểm nổi bật của làng nghề là trình độ kĩ thuật, còn quan điểm thứ ba lại nhấn mạnh đến căn cứ về mặt kinh tế.
Để phục vụ mục đích nghiên cứu về sự phát triển của kinh tế hàng hóa Thăng Long- Hà Nội trong phạm vi luận văn này, làng nghề được xem là làng có một hoặc vài nghề thủ công nổi trội, có tính mĩ nghệ và trở thành sản phẩm hàng hóa, quan hệ với một thị trường đô thị rộng lớn. Khái niệm phố nghề Để hiểu được rõ hơn khái niệm này, cần tìm hiểu từ “phố” trong khái niệm “phố nghề” có nghĩa gốc là gì. Phố- nguyên nghĩa là nơi bán hàng, ngày nay là cửa hiệu. Song, do các “phố” tập trung ken sát nhau thành một dãy dài nên cái gồm nhiều phố ấy cũng được gọi là phố và dần dần, cái từ “phố” với nghĩa là một dãy các cửa hàng lấn át từ phố nguyên nghĩa là một cửa hàng, và thế là có phố Hàng Bạc, phố Hàng Chiếu… để chỉ con đường mà hai bên có các cửa hàng bán: hàng bạc, hàng vàng, hàng chiếu… và vì vậy, một phường có nhiều phố.
Ví dụ như trong phường Đông Các có các phố Hàng Bạc, lại có phố Hàng Giày, phố Hàng Mắm… Ở mỗi phố, từng hội thợ thủ công từ làng quê ra Thăng Long cư trú, làm theo thời vụ. Dần dà, họ định cư ở hẳn lại, kẻ trước người sau tụ tập ở một góc phường (trong số 36 phường), bám lấy hai bên một con đường rồi mở cửa hàng (tức phố) vừa sản xuất, vừa bán buôn bán lẻ. 17 z Trong chính sử, từ “phố” xuất hiện khá muộn, không tìm thấy các từ “phố” trong các sử sách thời Lý- Trần và ngay cả đời Lê. Đến thế kỉ XIX, Đại Nam nhất thống chí chép: “Hà Nội là kinh đô xưa, nguyên trước có 36 phường phố, nay ở phía đông nam tỉnh thành gồm 21 phố, nhà ngói như bát úp, tụ họp các mặt hàng, nhân vật cũng phồn thịnh” [Quốc sử quán triều Nguyễn, 1994, 189].
Cũng giống như các phường của Thăng Long- Kẻ Chợ trong thế kỉ XVII- XVIII, tính chuyên nghề và mặt hàng của các phố Hà Nội trong thế kỉ XIX đã thể hiện rất rõ rệt.